Trang

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

6609. Luận giải chữ SAU trong đàn cơ ngày 21-02-1926.

 

Luận giải chữ SAU trong đàn cơ ngày 21-02-1926.


Dương Xuân Lương. 

Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Q1, trang 56, bản in 1995, Hoa Kỳ. Đàn cơ ngày 21-02-1926:

Qua đến ngày mùng 9 tháng Giêng (21-2-1926), nhằm ngày Vía Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Quan Phủ Vương Quan Kỳ có thiết Ðàn riêng tại nhà ông số 80 đường Lagrandière (bây giờ là đường Gia Long). Ðêm ấy có mời Chư Nhu và mấy vị Ðạo Hữu hầu Ðàn, Thượng Ðế giáng cơ dạy như vầy:

Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,
Mấy nhánh rồi SAU cũng một nhà.
Chung hiệp rán vun nền đạo đức,
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.
(hết trích)


Muốn hiểu đúng Thánh Ngôn, trước hết không nên để văn tự đứng mồ côi mà phải đưa vào hệ thống của Thánh Ngôn.

Nếu để bài Thánh thi trên đứng mồ côi rồi giải thích, rất dễ phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, gây hoang mang và mất phương hướng. 

Đặc biệt là nếu tách riêng câu: "Mấy nhánh rồi SAU cũng một nhà."  rồi giải thích theo cách mồ côi thì chữ "SAU" lại càng trở nên mơ hồ hơn và hậu quả rất xấu.

Điều này cũng giống như câu chuyện: "Ngày mai ăn khỏi trả tiền."

Ai cũng hiểu ngày mai là sau hôm nay, nhưng không ai biết đó là ngày mai nào. Bởi vì nó đứng mồ côi không xác định hôm nay là ngày nào, ngày mai là ngày nào nên không định lượng được.

Văn tự để nó mồ côi thì tự nó không thể rõ được nên cần có một hệ thống để hiểu đúng.

Chữ "SAU" trong bài Thánh thi cũng vậy. Nếu tách khỏi hệ thống, chữ "SAU" chỉ xác định được một điều duy nhất là sau ngày 21-02-1926. Ngoài ra, bản thân câu thơ không tự định lượng được khoảng thời gian ấy là bao lâu: vài tháng, vài năm hay cho đến hết nhiệm kỳ 700.000 năm của Tam Kỳ Phổ Độ thì vẫn đều là "SAU".

Từ ngày bài Thánh thi này ra đời đến nay đã một thế kỷ trôi qua. Trong khoảng thời gian ấy, không ít người đã viện dẫn chữ "SAU" để giải thích, biện luận hoặc bảo vệ cách hiểu và việc làm của mình. Mỗi cách giải thích đều có lý lẽ riêng. 

Nếu chữ "SAU" vẫn đứng "mồ côi", không được đưa trở lại đúng hệ thống giáo pháp, dùng hệ thống để đối chiếu, kiểm chứng thì không thể giới thiệu bản sắc trong lành của Đạo.

Đạo khai thì tà khởi. Mà tà quái thì luôn luôn tìm cách làm cho chơn truyền bị sai lệch nên việc vo tròn bóp méo chữ SAU trong bài thi trên là điều tất nhiên phải có.

Hôm nay không làm sáng tỏ chữ "SAU", thì một trăm năm sau, hai trăm năm sau, hay thậm chí đến hết nhiệm kỳ của Tam Kỳ Phổ Độ, người ta vẫn có thể tiếp tục viện dẫn chữ "SAU" theo nhiều cách hiểu khác nhau.

Luận giải chữ "SAU" không phải tạo thêm một cách hiểu mới, mà nhằm đưa chữ "SAU" trở về đúng vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống giáo pháp. Khi đó, chính tiến trình giáo pháp sẽ giải thích và định lượng ý nghĩa của chữ "SAU", góp phần làm sáng tỏ bản sắc trong lành, và thống nhất của nền Đạo.

I/- Đưa bài Thánh Thi vào hệ thống.

Bài viết trình ra các bài dạy sau ngày 21-02-1926 và trước đó để tiến đến sự thật về chữ SAU.

1/- Sau ngày 21-02-1926, Đức Chí Tôn qui nhánh về một nhà.

Về chữ NHÁNH Tôi đã có bài xác định là thời Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ Thầy lập ra ba NHÁNH (Phật, Tiên, Nho); nay đến Tam Kỳ Phổ Đạo Thầy lập NHÁNH Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, do chính Thầy làm chủ. Qua ba thời kỳ phổ độ Thầy lập chỉ có 4 NHÁNH. Quyền lập NHÁNH là của Thầy. (1)

Mục tiêu bài viết là trình ra các chứng cứ SAU ngày 21-02-1926 Thầy mới qui Tam Giáo. Qua đó hiểu đúng chữ SAU, không để chữ SAU bị thao túng nữa.

1.1/- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, ngày 9-8-1926 (1-7-Bính Dần) trang 33: 

Trong Tam Kỳ Phổ Độ và qui Tam Giáo này:

Phật thì có Quan Âm.

Tiên thì có Lý Thái Bạch.

Thánh thì có Quan Thánh Đế Quân khai đạo.

1.2/- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, ngày 18-9-1926 (13-8-Bính Dần) trang 39: Các con! Thầy đã lập thành Thánh Thất, nơi ấy là nhà chung của các con; biết à.

Thầy lại qui Tam Giáo lập Tân Luật, trong rằm tháng mười có đại hội cả Tam Giáo nơi Thánh Thất. Các con hay à!

1.3/- Đạo Sử, ngày 20-11-1926 (lập Pháp Chánh Truyền)

Chưởng Pháp của ba phái là: Ðạo, Nho, Thích; Pháp luật Tam Giáo tuy phân biệt nhau, song trước mắt Thầy vốn coi như một vậy, thì một thành ba, mà ba cũng như một.

(Lưu ý: Pháp Chánh Truyền Chú Giải “02-4-1931”:

PHÁP CHÁNH TRUYỀN: Vậy thì một thành ba, mà ba cũng như một.

CHÚ GIẢI: Ấy vậy Tân Luật đã gồm trọn Tam Giáo, tức là một thành ba, mà ba Cựu Luật của Tam Giáo hiệp nhau thì cũng như một, nghĩa là: "Tân Luật".)

1.4/- Đạo Sử, Dimanche 16 Janvier 1927 (13-12-Bính Dần).

THÁI BẠCH

Lão khen chư Ðạo Hữu, đại hỉ, đại hỉ, đại hỉ.

Thượng Tương Thanh, coi Lão hành sự mà học chước.

Mời Chưởng Pháp phái Nho. Chư Hiền Hữu bình thân. Ðứng bái ban.

Chưởng Pháp, Ðầu Sư tọa vị. Phối Sư Tam Giáo tới trước.

Thái Thơ Thanh phải ôm bộ Chú giải các Luật, Tân Luật của chư Hiền Hữu cải đó nữa.

Thơ Thanh ôm chí mày dâng cho Tương Thanh, rồi Tương Thanh cũng phải làm như vậy mà giao cho Trang Thanh phò.

Lưu ý: Phối Sư Tam Giáo là 03 phái: Nho (Phái Ngọc) Thích (Phái Thái) và Đạo (Phái Thượng).

1.5/- Tân-Luật (bản in 1927).

Tiểu Tự

… Cái tông chỉ của Đại đạo là gồm cả ba đạo chánh là: NHO THÍCH ĐẠO chuyển cả ba đạo ấy mà hiệp làm một. Nên chi chúng ta tu Đại Đạo thì phải noi theo tông chỉ của tam giáo mà tập rèn tâm tánh…

1.6/- Liệt kê và kết luận.

Qua các trích dẫn trên, bài viết liệt kê chuỗi phát triển của chữ SAU:

21-02-1926: dạy bài Tứ tuyệt có câu 2: …Mấy nhánh rồi SAU cũng một nhà

09-08-1926: xác định Tam Giáo được quy

18-09-1926: công bố quy Tam Giáo lập Tân Luật

20-11-1926: lập thành Pháp Chánh Truyền

16-01-1927: tổ chức thực hiện

Năm 1927: in thành Tân Luật

Như vậy, chữ SAU không kéo dài vô định đến hàng trăm năm hay 700.000 năm. Chính tiến trình giáo pháp đã định lượng nó trong khoảng thời gian từ ngày 21-02-1926 đến những tháng cuối năm 1926 và năm 1927.

Kết luận

Chuỗi trích trên không chứng minh rằng sau ngày 21-02-1926 Đức Chí Tôn lập thêm nhiều nhánh Cao Đài. Trái lại, nó cho thấy:

Các NHÁNH được quy là ba nhánh Phật, Tiên, Nho của Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ; Tam Kỳ, Đức Chí Tôn lập NHÁNH Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, do chính Thầy làm chủ; Thầy quy Tam Giáo vào NHÁNH Đại Đạo thể hiện qua Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.  

Do đó, câu: “Mấy nhánh rồi SAU cũng một nhà”

Phải được đọc theo tiến trình:

Ba nhánh thời Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ (Phật, Tiên, Nho) được quy về một nhà chung trong Tam Kỳ, chứ không phải một cội Cao Đài về sau tự sinh thêm nhiều nhánh Cao Đài.

Muốn hiểu đúng phải đưa chữ SAU trở lại đúng thời gian, đúng hệ thống và đúng đối tượng, để chữ ấy không còn bị tách riêng rồi dùng làm căn cứ cho những cách hiểu trái với toàn bộ tiến trình giáo pháp.

2/- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển 2, trang 110. Bản in 1963.

Ngày 23-01-1926 Thượng Đế dạy:

Chín Trời mười Phật cũng là Ta,
Truyền đạo chia ra NHÁNH nhóc ba.
Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ,
Thánh, Tiên, Phật đạo vốn như nhà.

Đây là bài dạy trước ngày 21-02-1926 nên cần làm rõ trong hệ thống.

Hai câu 2 & 3: Truyền đạo chia ra NHÁNH nhóc ba và Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ tạo thành một cặp đối ứng.

Chia (ba NHÁNH) ↔ Hiệp (MỘT chủ quyền).

Tất cả cũng là do Đức Chí Tôn: "Chín Trời mười Phật cũng là Ta." Nghĩa là: Thầy là Đấng truyền đạo chia ra nhánh. Thầy cũng là Đấng hiệp một chủ quyền.

Đây là nguyên lý, chưa phải là tiến trình.

Sau đó mới đến bài 21-02-1926: "Mấy nhánh rồi SAU cũng một nhà."

Lúc này mới xuất hiện yếu tố thời gian: SAU.

Bài ngày 23-01-1926 có quan hệ rất chặt với các bài sau đó theo từng bước: nguyên lý, tiến trình thực hiện và kết quả.  

Ngày 23-01-1926 trả lời câu hỏi: Ai chia? Ai hiệp? Là nguyên lý.

Ngày 21-02-1926 trả lời câu hỏi: Khi nào hiệp? Là SAU là báo cho biết bắt đầu tiến trình.

Toàn bộ chuỗi: 09-08-1926; 18-09-1926; 20-11-1926; 16-01-1927 là thực hiện qua các việc làm cụ thể.

Kết quả trong Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.

II/- Những cách hiểu mồ côi.

 (Còn tiếp)

Chú thích. 

(1)/- https://www.khoinhonsanh.org/2024/10/5475-vntb-phep-thu-ve-nhanh-trong-ao.html#more