Đôi Điều Thưa Lại với Giáo Sư Nguyễn
Khắc Ngữ.
Bài 1.
Dương Xuân Lương.
Ông Nguyễn Khắc Ngữ (1935-1992) sinh tại Duyên Hà, Thái Bình, di cư vào Nam năm 1954. Ông nhập ngũ khóa 21 Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, ra trường phục vụ trong binh chủng Không Quân.
Bản PDF:
Ông có sự nghiệp về nhiều phương diện: viết báo, viết văn, nghiên cứu về ngôn ngữ Chàm, về Văn hóa Óc Eo, Phù Nam… Ông tốt nghiệp Cao học Sử, giáo sư Sử học tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, biên soạn sách giáo khoa lịch sử trước năm 1975. Có thời gian làm phụ tá khoa trưởng Đại Học Kinh Tế Thương Mại Minh Đức. Ngày 30-4-1975 ông rời Việt Nam, định cư tại Montreal, Canada.
Năm 1991 ông biên soạn tác phẩm: Lịch
sử Các Đảng-phái Việt-nam. Bảo-Đại Các Đảng-Phái Quốc-Gia và Sự Thành-lập Chính-quyền
Quốc-gia (1). Sách thuộc Tủ Sách Nghiên Cứu Sử Địa.
Lời nói đầu ông viết: … Trong phạm
vi cuốn sách này, chúng tôi chỉ nói đến giai đoạn những nhà ái quốc Việt Nam bỏ
nước sang Trung Hoa từ 1946 đến 1950.
Cuộc lưu vong lần này có tầm quan
trọng đặc biệt nhờ có sự vận động thành lập Chính quyền Quốc gia, để có thể
giữ vững được miền Nam Việt Nam ít ra cũng trong một phần tư thế kỷ.
Giai đoạn này là một giai đoạn ít
sách sử nào viết đến nên chúng tôi thực hiện cuốn sách này bằng cách khai thác
các hồi ký, thư từ, văn kiện của các đảng phái, các nhà cách mạng lưu vong
và những dữ kiện do sự phỏng vấn, nói chuyện với những nhà cách mạng còn sống,
các văn kiện lưu trữ tại các văn khố như văn khố quân đội Pháp (SHAT), văn
khố Pháp quốc Hải ngoại (ANOM) v.v... Tất nhiên với phương tiện và thời
gian hạn hẹp, chúng tôi chưa khai thác được hết tất cả các tài liệu được. (hết trích)
Trích đoạn từ Lời tựa cho thấy một
thái độ khoa học đáng trân trọng: Xác định phạm vi nghiên cứu; Giá trị của tác
phẩm; Phương pháp nghiên cứu. Ông viết với nguồn tư liệu ông có trong tay và thời
gian hạn hẹp. Nó thể hiện tâm huyết nghiên cứu và lưu giữ những tư liệu quý về
lịch sử Việt Nam.
Công trình nghiên cứu của ông trong
giai đoạn 1949-1955 góp phần giúp người đọc ý thức sâu sắc rằng lịch sử Việt
Nam đã từng có một Quốc gia Việt Nam, với những nhân vật, tổ chức và diễn
biến chính trị cần được nghiên cứu nghiêm túc.
Nhờ có những người đi trước như Giáo
Sư, thế hệ sau có cơ hội tiếp cận nhiều vấn đề lịch sử cần tìm hiểu thêm.
Trong quá trình tìm hiểu, đối chiếu
với văn khố Đạo Cao Đài, tôi thấy có đôi điều cần thưa lại với Giáo sư, thưa lại
với Tủ sách Nghiên cứu Sử Địa, để góp thêm những sự thật lịch sử vào công trình
của Giáo sư.
1/- Trang 34.
… Bảo Đại thấy việc tổ chức Hội nghị
Toàn quốc này chỉ là làm theo đường lối của Bollaert đã nói với ông ở Genève trước
đây nên vội vàng triệu tập Nghị hội các đảng phái Quốc gia ngày 26-3-1948 ở
Hương Cảng.
Nghị hội này có mặt các ông Đặng
Hữu Chí, Trần Quang Vinh, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa
Toàn, Hà Xuân Tế, Phạm Văn Hải, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Tuệ,
Nguyễn Văn Tỵ, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Tuyên, Nguyễn Thục,
Ngô Khánh Thục, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn
Dân v.v... (21).
Nghị hội này họp tại Khách sạn Hong
Kong … (hết trích).
Lưu ý về chú thích 21: Trang 58,
tác giả cho biết chú thích số (21) dẫn nguồn từ trang 198–199 của hồi ký Le
Dragon d'Annam (Con Rồng An Nam) của Quốc trưởng Bảo Đại, xuất bản tại
Paris năm 1980.
1.1/- Xác định 03 người trong Đạo
Cao Đài.
Theo đoạn trích trên, ngày
26-03-1948 tại Khách sạn Hong Kong diễn ra một Nghị hội các đảng phái quốc gia.
Trong danh sách tham dự có ba nhân vật của Đạo Cao Đài là Trần Quang Vinh, Lê
Văn Hoạch và Phạm Công Tắc.
Tại thời điểm 26-03-1948, ba vị này
có phẩm vị và nhiệm vụ như sau:
Trần Quang Vinh (1897-1977): là Phối
Sư Thượng Vinh Thanh (được phong ngày 15–02–1948), là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao
Đài.
Lê Văn Hoạch (1896-1978): Bảo Sanh
Quân (Cựu Chủ Tịch Cộng Hòa Tự Trị Nam Kỳ hay Nam Kỳ Quốc). Tuân lịnh Đức Chí Tôn
đem nguyên văn đàn cơ ngày 21-01-1948 sang Hong Kong giao cho Vĩnh Thụy (2).
Phạm Công Tắc (1890-1959): Hộ Pháp,
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trung; đồng thời là Thượng Tôn
Quản Thế của Quân Đội Cao Đài.
1.2/- Đức Hộ Pháp không có mặt
trong Nghị hội ngày 26-3-1948.
Theo Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp
(Phạm Công Tắc), quyển 2, Hội Thánh Cao Đài kiểm duyệt và phát hành lần thứ nhất
năm 1973 (3):
Trang 28, đêm Rằm tháng 2-Mậu Tý (25-03-1948),
thuyết đạo, tại Đền Thánh. Thuyết đạo diễn ra sau khi cúng thời Tý, là đầu ngày
25-03-1948.
Trang 36, thời Ngọ (12 giờ trưa) ngày
Rằm tháng 2-Mậu Tý (25-03-1948) thuyết đạo tại Báo Ân Từ.
Trang 37, đêm 19-2-Mậu Tý
(29-03-1948) thuyết đạo tại Đền Thánh.
Trang 40, đêm 21-2-Mậu Tý
(31-03-1948), thuyết đạo tại Đền Thánh.
Qua chuỗi thời gian liên tục trên
cho thấy Đức Hộ Pháp có mặt ở Tòa Thánh Tây Ninh từ ngày 25-03-1948 đến
29-03-1948. Với tình hình giao thông năm 1948 Đức Hộ Pháp không thể có mặt tại Hong Kong để dự Nghị hội ngày 26-03-1948.
Như vậy: trang 198–199 sách Hồi ký Le
Dragon d'Annam (Con Rồng An Nam) của Quốc trưởng Bảo Đại, xuất bản tại
Paris năm 1980 viết Phạm Công Tắc có mặt trong Nghị hội ngày 26-03-1948 là không
chính xác. Giáo Sư Nguyễn Khắc Ngữ trích thông tin từ Hồi ký nên cũng không chính
xác.
1.3/- Đức Hộ Pháp đi Hong Kong gặp
Cựu Hoàng Bảo Đại.
Cũng từ Lời Thuyết Đạo, quyển 2 trên
đây, bài viết dẫn chứng 03 bài: Đức Hộ Pháp chuẩn bị đi Hong Kong gặp Bảo Đại và hai bài
sau khi đi Hong Kong về
Trang 41, đêm 23-02-Mậu Tý (02-04-1948), tại
Đền Thánh Đức Hộ Pháp thuyết đạo bài: Vận Mạng Nước Việt Nam Hiện Thời.
Ngày nay Bần
Ðạo hạ san một lần nữa, bởi vấn đề tương lai, vận mạng của nước Việt Nam chúng
ta tới giai đoạn rắc rối không giải đặng.
Bần Ðạo phải liệu một giải pháp nào
đặng làm cho thái bình đặng cứu vãn tình thế của nòi giống Việt Nam, bằng chẳng
vậy thì như trước mắt chúng ta thấy trường lưu huyết vô lối mà tàn sát chúng
sanh …. (hết trích).
(Lưu ý Trong đạo sự thường ghi theo
ngày Âm lịch, sau đó mới tới Dương lịch, đêm 23-02-Mậu Tý là 02-04-1948; trang
41, viết ngày 02-03-1948 là sai ngày Dương lịch)
Vậy Đức Hộ Pháp hạ san thì đi đâu? Giải
pháp là gì?
Hai câu hỏi trên được chính Đức Hộ
Pháp trả lời trong hai bài thuyết đạo ngày Rằm tháng 3 năm Mậu Tý (23-04-1948),
sau khi từ Hồng Kông trở về.
Trang 42, đêm Rằm tháng 3-Mậu Tý (23-04-1948),
tại Đền Thánh, Đức Hộ Pháp thuyết đạo bài: Đòi Lại Chủ Quyền Của Việt Nam.
… khi Bần Ðạo hạ san với giải
pháp mới trong tay, cầm xuống kinh thành thì Bần Ðạo tưởng rằng sẽ gặp điều khó
khăn, không thể giải quyết đặng với nhà chưởng quyền của Ðại Pháp. Trái ngược lại,
Bần Ðạo thấy một tinh thần của một nòi giống công chánh, đã hiển nhiên hiện trước
mắt Bần Ðạo, là người đã thấu đáo việc mình đương hành động và người ta đợi
mình nói việc mình đang làm đó, mà mình lại không nói, không làm cho người ta
hiểu…
… Lạ lùng thay! Con đường khó mà
thành dễ. Còn bây giờ tới đoạn đường mình tưởng dễ mà thành ra khó, là nhà vua
của mình là Bảo Ðại chần chờ chưa quyết định, làm khó, trở ngại người ta, nghĩ
cũng buồn cười, nhưng dù sao Chí Tôn cũng đã định sẽ kết liễu y như Thánh ý của
Ngài, không khi nào sai chạy đặng…. (hết trích)
Trang 88, thời Ngọ (trưa) Rằm tháng 3-Mậu Tý
(23-04-1948), tại Báo Ân Từ, Đức Hộ Pháp thuyết đạo bài: Quả Kiếp Của Dân Tộc
Việt Nam.
… Ðiều chướng ngại hiện giờ là
tôi tưởng phải khó khăn về phía người Pháp, trái lại Ðức Bảo Ðại làm khó người
ta, làm cho đình đãi cuộc thương thuyết, mà một ngày chưa thương thuyết, là một
ngày nhơn sanh chết chẳng biết bao nhiêu. Tại sao vậy? Tại quả kiếp chưa thường
đủ, nhơn sanh phải chết phải trả món nợ còn đang đòi, trả bằng máu, bằng con số
sanh mạng. Vì cớ mới có sự chướng ngại lạ lùng vừa nói…. (hết trích)
Qua hai bài thuyết đạo ngày
23-04-1948 có thể xác định hai sự kiện:
Thứ nhất, Đức Hộ Pháp đã trực tiếp gặp Cựu
hoàng Bảo Đại tại Hồng Kông.
Thứ hai, mục đích của chuyến đi là vận động
Cựu hoàng Bảo Đại nhận trách nhiệm đòi lại chủ quyền và độc lập cho Việt Nam.
Lời Thuyết Đạo được hình thành qua
ba bước chính:
Bước 1: Đức Hộ Pháp trực tiếp thuyết giảng
trước nhiều người.
Bước 2: Nhiều tốc ký viên có trách nhiệm
ghi lại ngay tại buổi thuyết đạo, rồi đối chiếu các bản ghi để thống nhất nội
dung.
Bước 3: Các vị Tốc ký viên dâng lên Hội
Thánh Cao Đài kiểm duyệt và ban hành năm 1970.
Qua quy trình trên cho thấy, nội
dung của Lời Thuyết Đạo không được viết theo trí nhớ của một cá nhân nhiều năm
sau sự kiện, cũng không phải là hồi ký hay bản thuật lại của người đời sau. Đây
là tài liệu được hình thành từ việc ghi nhận trực tiếp lời thuyết giảng tại thời
điểm diễn ra, sau đó được đối chiếu, kiểm duyệt và ban hành.
2/- Tại sao Đức Hộ Pháp đi Hong
Kong?
(Còn tiếp).
hoabinhchungsong220513@yahoo.com
Chú thích:
(1)/- Link Sách của Giáo Sư
https://drive.google.com/file/d/1dng57kUGR1kwmvymaUH14RU0vey_S0kY/view
(2) Đức Chí Tôn ban thi cho Vĩnh Thụy.
https://www.khoinhonsanh.org/2026/03/6355-thu-cuu-hoang-bao-ai-goi-uc-ho-phap.html#more
(3): Link Lời Thuyết Đạo Q2.
https://drive.google.com/file/d/1zc0plkWqXO7RJMqwQRrROxrK8H_86uYy/view?pli=1