Trang

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

6721. 23-11-1954 (C): Đại Tướng Collins: Điện văn 1935 xác định Hoa Kỳ huấn luyện Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và viện trợ. (08)

Điện văn này có đường đi như sau:

  • Người soạn nội dung: Đại tướng J. Lawton Collins — được xác nhận bằng dòng “From Collins.”
  • Người chính thức chuyển điện văn: Đại biện Hoa Kỳ tại Việt Nam Randolph A. Kidder.
  • Nơi gửi: Sài Gòn, ngày 23-11-1954, lúc 5 giờ chiều.
  • Nơi nhận chính: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại Washington.
  • Nơi nhận bản lặp lại để biết: Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Paris, Điện văn số 631.
  • Bộ Ngoại giao được yêu cầu chuyển tiếp cho: Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.
08TL, (bổ sung danh mục số 8)

Link nguồn:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1339#fn:1.7.4.8.42.6 

GPT DỊCH 

Sài Gòn, ngày 23 tháng 11 năm 1954 — 5 giờ chiều
[Nhận lúc 7 giờ 28 sáng]


1935. Gửi lặp lại để thông tin cho Paris số 631. Bộ Ngoại giao chuyển Bộ Quốc phòng. Từ Collins.

Trong cuộc họp ngày 22 tháng 11 với Tướng Ely, những vấn đề chính được chúng tôi thảo luận như sau:

1. Hoa Kỳ đảm nhận trách nhiệm huấn luyện

Tôi nhắc đến những thông tin sơ bộ và ngắn gọn mà tôi đã nhận được cho đến nay về các cuộc thảo luận tại Washington, như được trình bày trong Điện văn Bộ Ngoại giao số 2046.^2 Tôi đề nghị rằng, không cần chờ thêm chỉ thị, chúng ta nên tiến hành công việc; đồng thời đề nghị Ely trình bày những sửa đổi cụ thể của ông đối với dự thảo biên bản thỏa thuận về việc phát triển và huấn luyện các lực lượng vũ trang tự trị của Việt Nam, được đề cập trong Điện văn Đại sứ quán số 1854.^3 Ely nói rằng ông sẽ chuẩn bị ngay các sửa đổi của mình.

[Trang 2280]

2. Cơ chế phối hợp viện trợ

(a)

Sau khi nhắc đến bản ghi nhớ ngày 17 tháng 11 của Ely gửi cho tôi, được chuyển trong Điện văn Đại sứ quán số 1919,^4 tôi tái khẳng định lập trường của Hoa Kỳ: chúng tôi có ý định phối hợp các nỗ lực, nhưng Hoa Kỳ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm và kiểm soát các chương trình viện trợ của chính mình, và không thể đồng ý thành lập những ủy ban có quyền điều tiết viện trợ.

Tôi giải thích rằng, theo quan điểm của chúng tôi, trong quá trình thực hiện chương trình nên tiến hành những cuộc thảo luận không chính thức với Pháp và Việt Nam, thay vì thiết lập một cơ chế chính thức. Mỗi bên nên chỉ định những viên chức thích hợp trong từng lĩnh vực để tham gia các cuộc thảo luận ấy. Chẳng hạn, trong lĩnh vực viện trợ kinh tế, tôi sẽ chỉ định Barrows.

(b)

Ely nói rằng rõ ràng quan niệm hiện nay của Hoa Kỳ có phần khác với quan niệm được nêu ra trong các cuộc thảo luận Smith–La Chambre. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, phía Pháp không đặt vấn đề về quyền của mỗi quốc gia được viện trợ theo cách mình cho là thích hợp, và cũng không có ý định trao cho ủy ban quyền kiểm soát viện trợ.

(c)

Vì theo tôi, hai bên về căn bản đã đồng thuận, tôi đề nghị các đại diện của chúng ta xem xét từng dự án viện trợ dựa trên giá trị riêng của dự án đó. Những dự án có bất đồng lớn sẽ được đưa lên cấp đại sứ để thảo luận; quyết định cuối cùng vẫn thuộc về quốc gia cung cấp viện trợ.

Ely đồng ý chỉ định Bordaz làm đầu mối liên lạc với Barrows để xem xét toàn bộ vấn đề viện trợ. Tương tự, ông sẽ chỉ định một sĩ quan làm đầu mối liên lạc với Tướng O’Daniel hoặc đại diện của ông ấy trong các vấn đề viện trợ quân sự.

3. Tái định cư binh sĩ Việt Nam giải ngũ

Liên quan đến bản ghi nhớ của Ely gửi cho tôi về quy mô và thành phần các lực lượng Việt Nam, được chuyển trong Điện văn Đại sứ quán số 1920,^5 tôi đồng ý rằng việc từng bước giải ngũ khoảng một nửa quân số sẽ gây ra một vấn đề tái định cư lớn.

Tôi đề nghị rằng ngay sau khi nhận được chỉ thị từ Washington, chúng ta nên thành lập một nhóm nghiên cứu gồm các đại diện Pháp, Việt Nam và Hoa Kỳ—gồm MAAG và USOM—để xác định những việc cần thực hiện. Ely đồng ý.

4. Thu hồi trang bị MDAP dư thừa

Theo chỉ thị trong Điện văn Bộ Ngoại giao số 2023, tôi trao cho Ely bản biên bản thỏa thuận đã được sửa đổi về việc đưa một số trang bị MDAP trở lại dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ.^6

[Trang 2281]

Trong cuộc thảo luận ngắn về vấn đề Hoa Kỳ thu hồi những trang bị dư thừa, Ely đề cập đến việc kiểm kê trang bị đang được tiến hành và cho rằng Quân đoàn Viễn chinh Pháp nên giữ lại lượng dự trữ đủ dùng trong hai hoặc ba tháng, phòng trường hợp chiến sự tái diễn.

Tôi đề nghị các sĩ quan MAAG và EMIFT nhanh chóng gặp nhau để hoạch định thủ tục thu hồi. Ely phản ứng thuận lợi sau khi nghe bản dịch miệng của biên bản, nhưng yêu cầu có thời gian nghiên cứu bản viết.

5. Cố vấn Hoa Kỳ trong Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam

Tôi nói với Ely rằng ngày 19 tháng 11, Minh cho biết ông đang thay thế bốn sĩ quan Việt Nam trong Bộ Tổng tham mưu. Tôi hỏi liệu có thể nhanh chóng đưa một số sĩ quan Hoa Kỳ vào làm cố vấn cho các sĩ quan Việt Nam mới hay không.

Ely đồng ý cho ba hoặc bốn sĩ quan MAAG—hiện đã được Tướng O’Daniel dự kiến dành cho nhiệm vụ này—đảm nhiệm vai trò cố vấn trong Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam. Tuy nhiên, trước khi đồng ý cho họ vào làm việc ngay, ông muốn nghiên cứu thêm toàn bộ chương trình phối hợp các huấn luyện viên và cố vấn Hoa Kỳ với Pháp.

6. Di chuyển trang bị do Hoa Kỳ tài trợ khỏi Bắc Việt

Tôi nhắc lại với Ely rằng nhân dân và Quốc hội Hoa Kỳ đặc biệt coi trọng việc ngăn chặn mọi trang bị do Hoa Kỳ tài trợ—dù thuộc sở hữu công hay tư—rơi vào tay Cộng sản.

Ely trả lời rằng đây là một trong những mối quan tâm chính của ông. Ông dự định đến ngày 31 tháng 1 sẽ di chuyển khỏi miền Bắc toàn bộ quân dụng MDAP, ngoại trừ số trang bị đang nằm trong tay các đơn vị quân đội.

Các đại diện của ông hiện đang nghiên cứu những nhu cầu tối thiểu của các dịch vụ công cộng dân sự mà theo Hiệp định Genève phải được để lại trong tình trạng hoạt động. Ely dự liệu sẽ gặp một số khó khăn trong việc di chuyển hai máy xúc hơi nước do USOM tài trợ khỏi Công ty Than Bắc Kỳ, nhưng dù sao ông vẫn dự định tiến hành.

Ông nói rằng ông hoan nghênh sự góp ý của các đại diện Hoa Kỳ tại Hải Phòng về bất cứ trang bị nào mà chúng tôi cho rằng cần phải di chuyển. Tôi nhắc lại rằng việc để bất kỳ trang bị viện trợ nào của Hoa Kỳ—dân sự hoặc quân sự—rơi vào tay Cộng sản có thể ảnh hưởng sâu sắc đến viện trợ của Hoa Kỳ trong tương lai.

7. Chính trị nội bộ

(a)

Tôi nhắc Ely về sự thỏa thuận đạt được trong cuộc nói chuyện đầu tiên của chúng tôi tại Đà Lạt: tôi sẽ tiếp xúc với Diệm về việc củng cố Chính phủ. Tôi cũng trình bày khái quát cuộc nói chuyện ngày 19 tháng 11 của tôi với Diệm, được báo cáo trong Điện văn Đại sứ quán số 1906.^7

Ely trả lời rằng ông xem Quát là một trong những người có năng lực nhất hiện có; vào một thời điểm trước đây, ông từng vui lòng thấy Quát giữ chức Thủ tướng. Tuy nhiên, hiện nay sự bất hòa sâu sắc giữa Quát với Hinh [Minh] là trở ngại đối với việc Quát trở thành Bộ trưởng Quốc phòng.

Sau đó, tôi nhắc lại rằng, dù tốt hay xấu, Diệm đã tuyên bố ông sẽ thảo luận với Quát về khả năng Quát đảm nhận Bộ Quốc phòng. Ely đồng ý rằng nếu Hinh [Minh] vẫn giữ chức phụ tá thì ông và Quát, với tư cách một ê-kíp, có thể làm việc được và tránh một cuộc xung đột nghiêm trọng với quân đội. Nếu không, có lẽ nên bổ nhiệm Quát làm Phó Thủ tướng và đưa Minh lên đứng đầu Bộ Quốc phòng.

(b)

Ely nói rằng trong khi Minh dường như muốn áp dụng những biện pháp hòa giải đối với quân đội, Diệm lại có dấu hiệu muốn loại bỏ hoàn toàn tất cả những người ủng hộ Hinh.

Minh và Tướng Vy hiện đang ở miền Trung Việt Nam, tìm cách giải quyết một giai đoạn mới và nguy hiểm trong những cuộc tranh chấp đã kéo dài nhiều tuần giữa các phe phái đối địch trong quân đội—một bên ủng hộ Chính phủ và bên kia ủng hộ Hinh.

Những cử chỉ hòa giải của Diệm có thể mang lại yên ổn; nhưng Ely lo ngại rằng trái lại, Diệm có thể kích động các đối thủ đi đến bạo lực. Ely ngờ rằng Vy có thể đã tuyên thệ trung thành với Hinh và đường lối của Hinh. Ông cho rằng nếu Thủ tướng gây sức ép quá mạnh, cuộc tranh chấp Diệm–Hinh hiện tại sẽ chỉ được thay thế bằng cuộc xung đột Diệm–Vy.

Ely đã nhận thấy những dấu hiệu cho thấy Minh, vì ủng hộ Vy, đang trở thành đối tượng bị Diệm nghi ngờ. Tôi sẵn sàng đồng ý với đề nghị của Ely rằng tôi nên tiếp tục khuyên Diệm theo đuổi đường lối hòa giải trong cách đối xử với các lực lượng vũ trang.

(c)

Ely nói rằng ông sẽ tiếp tục ủng hộ Diệm chừng nào tôi còn ủng hộ Diệm. Ông nhận xét rằng hai phẩm chất lớn của Thủ tướng là sự liêm khiết và ý chí kiên định; tuy nhiên, phẩm chất thứ hai có khuynh hướng biến thành sự ngoan cố và do đó trở thành một khuyết điểm.

Không người nào trong số các thuộc cấp của Diệm được trao đủ thẩm quyền để làm việc, vì Diệm muốn tự mình làm mọi việc. Tuy nhiên, Chính phủ của ông có thể trở nên hữu hiệu nếu ông bằng lòng tiếp tục đứng đầu Chính phủ nhưng giao việc điều hành cho hai Phó Thủ tướng, một trong số đó có thể là Quát. Sự thay đổi này, cùng với việc bổ nhiệm những Bộ trưởng Quốc phòng và Nội vụ mạnh, sẽ là bước khởi đầu thích hợp.

(d)

Tôi nói với Ely rằng tôi đã thảo luận với Diệm về Bộ Nội vụ nhưng không đạt được kết quả nào. Ely nhắc lại lập luận của ông ủng hộ Tâm và nói rằng nếu Diệm khăng khăng giữ lại bộ này thì mọi việc sẽ thất bại.

Tôi nói với Ely rằng tôi đã nêu tên Tâm với Diệm nhưng bị Diệm dứt khoát bác bỏ; tôi không có ý định nêu lại tên Tâm lần nữa. Tôi hỏi Ely còn có thể chọn ai khác cho Bộ Nội vụ. Ông trả lời rằng có một số ứng viên thuộc Bình Xuyên, nhưng ông không thể tiến cử người nào.

Phần thảo luận này kết thúc với nhận xét của Ely rằng nếu tôi không thể thuyết phục Diệm chấp nhận Tâm thì không ai có thể làm được. Ông đồng ý cung cấp cho tôi một danh sách những ứng viên có thể đảm nhiệm Bộ Nội vụ, xếp theo khả năng làm việc hữu hiệu của họ.

(e)

Ely nói rằng ngày 21 tháng 11, ông đã nghiêm khắc giảng giải cho Tướng Vy về sự cần thiết phải hợp tác với Chính phủ. Vy đồng ý, nhưng nói rằng ông nghĩ Hinh sẽ trở về trong vòng hai tuần.

Ely nói với Vy rằng việc Hinh trở về quá sớm sẽ trái với quyền lợi quốc gia. Ông nói với tôi rằng nếu Hinh trở về quá sớm thì đó sẽ là một tai họa.

Tôi cho ông biết tôi đã yêu cầu Đại sứ quán tại Paris can thiệp với Bảo Đại để thu xếp cho Hinh tiếp tục ở nước ngoài trong vài tháng, được đề cập trong Điện văn Đại sứ quán số 1917.^8 Tôi hỏi Ely liệu ông có thực hiện những bước tương tự hay không. Ông đồng ý.

Ely nói thêm rằng Hinh đã cố gắng nhưng không thành công trong việc thiết lập phương tiện gửi điện văn mật mã cho Quân đội Quốc gia. Dường như trước khi ra đi, Hinh đã để lại mệnh lệnh rằng quân đội phải hành động chống lại Chính phủ nếu trong vòng hai tuần ông không trở về hoặc không gửi chỉ thị thích hợp.

[Trang 2283]

Ely dự định đối chất với Vy về báo cáo này vào ngày 23 tháng 11.

(f)

Tôi đề cập đến những lời công kích Chính phủ được phát trên đài phát thanh của Quân đội Quốc gia. Tôi nói với Ely rằng chúng tôi nhận được tin một số sĩ quan Pháp, cùng với Jean Barre—cộng tác viên của hãng thông tấn United Press—có thể đã tham gia cung cấp tài liệu cho những buổi phát thanh này.

Ely đồng ý sẽ có biện pháp đối với bất kỳ sĩ quan Pháp nào có liên can.

(g)

Như một nhận xét sau cùng, Ely nói rằng gia đình Diệm gây ảnh hưởng rất xấu đối với Thủ tướng, đặc biệt là người em Ngô Đình Nhu và vợ ông ấy.

Kidder

Chú thích

1. Điện văn này được truyền đi thành hai phần.

2. Đề ngày 19 tháng 11, trang 2271.

3. Đề ngày 16 tháng 11, trang 2259.

4. Điện văn số 1919 từ Sài Gòn, ngày 21 tháng 11, chứa nguyên văn một công hàm của Tướng Ely gửi Tướng Collins đề ngày 17 tháng 11, liên quan đến cơ chế phối hợp các chương trình viện trợ kinh tế của Pháp và Hoa Kỳ, không được in. (751G.5 MSP/11–2154)

5. Điện văn số 1920 từ Sài Gòn, ngày 21 tháng 11, chứa nguyên văn một bản ghi nhớ do Tướng Ely chuyển cho Tướng Collins ngày 20 tháng 11, liên quan đến việc giảm quân số của Quân đội Việt Nam, không được in. (751G.55/11–2154)

6. Trong Điện văn số 2023 gửi Sài Gòn ngày 18 tháng 11, Tướng Collins được phép chuyển cho Tướng Ely một bản đã sửa đổi của dự thảo biên bản thỏa thuận, vốn được trình bày trong Điện văn số 1793 từ Sài Gòn ngày 10 tháng 11. (751G.5 MSP/11–1054)

Ngày 1 tháng 12, Collins và Ely ký biên bản thỏa thuận; nội dung của biên bản đã được xác định trong các Điện văn số 2023 và 1793. Biên bản quy định Hoa Kỳ và Pháp phải lập tức tham khảo với nhau tại Sài Gòn để thiết lập các thủ tục đưa những trang bị MDAP dư thừa trở lại dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ.

Collins báo cáo việc hoàn tất thỏa thuận này trong Điện văn số 2076 từ Sài Gòn, ngày 3 tháng 12. (751G.5 MSP/12–354)

7. Đề ngày 20 tháng 11, trang 2272.

8. Trong Điện văn số 1917 từ Sài Gòn, ngày 21 tháng 11, không được in, Tướng Collins cho rằng điều quan trọng là Tướng Hinh không nên trở về Việt Nam trong tương lai gần. Collins yêu cầu Bảo Đại giao cho Hinh một nhiệm vụ thích hợp, để giữ ông ở nước ngoài trong vài tháng. (751G.551/11–2154)

 Hết dịch từ nguyên văn. 


Tóm lược Điện văn số 1935 ngày 23-11-1954

Qua điện văn do Đại biện Kidder chuyển, Collins báo cáo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về cuộc họp giữa ông với Tổng Cao ủy Pháp Paul Ely ngày 22-11-1954. Hai người thảo luận bảy vấn đề chính:

  1. Huấn luyện Quân đội Việt Nam: Collins đề nghị xúc tiến việc Hoa Kỳ đảm nhận trách nhiệm huấn luyện mà không chờ thêm chỉ thị. Ely đồng ý sớm chuẩn bị những sửa đổi đối với dự thảo thỏa thuận.
  2. Phối hợp viện trợ: Hoa Kỳ chấp nhận tham khảo với Pháp và Việt Nam, nhưng nhất quyết giữ toàn quyền quản lý và quyết định đối với chương trình viện trợ của mình.
  3. Giải ngũ binh sĩ: Việc dự kiến giảm khoảng một nửa quân số sẽ tạo ra vấn đề tái định cư lớn. Hai bên đồng ý thành lập nhóm nghiên cứu Pháp–Việt–Mỹ.
  4. Thu hồi trang bị MDAP dư thừa: Collins trao cho Ely bản dự thảo sửa đổi về việc đưa trang bị dư thừa trở lại quyền kiểm soát của Hoa Kỳ. Biên bản này được hai người ký ngày 01-12-1954.
  5. Cố vấn Hoa Kỳ: Ely đồng ý về nguyên tắc đưa ba hoặc bốn sĩ quan MAAG vào làm cố vấn tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam, nhưng muốn nghiên cứu thêm cách phối hợp cố vấn Mỹ–Pháp.
  6. Trang bị tại Bắc Việt: Collins và Ely tìm cách di chuyển những trang bị do Hoa Kỳ tài trợ khỏi miền Bắc trước khi rơi vào tay phía Cộng sản.
  7. Chính trị nội bộ: Collins và Ely bàn việc củng cố Chính phủ Diệm, đưa Phan Huy Quát vào Nội các, giải quyết quan hệ giữa Diệm với quân đội, ngăn Nguyễn Văn Hinh sớm trở về Việt Nam và hạn chế nguy cơ quân đội chống Chính phủ.

Ý nghĩa: Điện văn cho thấy Collins và Ely đang phối hợp để chuyển dần vai trò huấn luyện và viện trợ quân sự từ Pháp sang Hoa Kỳ. Đồng thời, hai người can dự sâu vào việc tổ chức Quân đội Quốc gia, củng cố Nội các Diệm và xử lý cuộc khủng hoảng giữa Chính phủ với giới lãnh đạo quân đội. Đây cũng là nguồn trực tiếp giải thích quá trình hình thành Biên bản Collins–Ely ký ngày 01-12-1954.