Thỏa ước ngày 29‑01‑1947: Hai Tầng Độc Lập của Quân Đội Cao Đài.
Dương Xuân Lương.
Khoản 18 giờ 30 đêm Giao Thừa năm Bính Tuất (21-01-1947) Việt Minh tấn công vào Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh từ hai hướng Đông Bắc (phía Từ Bi nay là cửa 10 và 11) và Đông Nam (phía Phước Đức Cù nay là cửa 8 và 9).
Hoàng Thọ chỉ huy hướng Đông-Bắc, cho lính Việt
Minh tràn vào tới giếng nước, cạnh hông Tòa Thánh (hướng Bắc); sát hại Chủ sở
là Lễ Sanh Thượng Hạc Thanh và đốt cháy nhà sở. Sáng mùng một Tết Đinh Hợi, Hội
Thánh cử phái đoàn đi quan sát và ghi nhận: 08 người bị sát hại bao gồm Chức sắc,
Chức việc Đạo hữu, và 16 nhà bị đốt cháy 100% … (1). Đó là nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến việc thành lập Quân đội Cao Đài ngày 29-01-1947.
Sáng ngày 29-01-1947 Đức
Hộ Pháp Phạm Công Tắc (Thượng Tôn Quản Thế của Quân đội Cao Đài) cho tổ chức Lễ
Thượng Cờ Quân đội Cao Đài tại Sân Vận Động (đối diện với Khách Đình qua Đại lộ
Cao Thượng Phẩm hiện nay). Đức Ngài cho Quân đội mượn Giáo Tông Đường làm Tổng
Hành Dinh.
Trưa cùng ngày
29-01-1947, Trung Tướng Trần Quang Vinh, Tổng Tư Lệnh Quân đội Cao Đài ký Thỏa
Ước với Thiếu Tướng De la Tour, Tư Lệnh Quân đội Pháp Miền Nam Việt Nam tại Tổng
Hành Dinh Quân đội Cao Đài.
Thỏa ước ngày 29-01-1947 xác lập
hai tầng độc lập của Quân đội Cao Đài:
-
Độc
lập với Quân đội Pháp: về tổ chức và hệ thống chỉ huy đối với Quân đội Pháp;
-
Đồng
thời không trực thuộc Chính phủ Nam Kỳ Tự Trị.
Cụ thể như sau.
1/- Tầng độc lập với Quân đội Pháp.
Bài viết phân tích 06 (sáu) mặt độc
lập điển hình.
1.1. Độc lập về thành lập
Điều thứ nhất: Thỏa thuận cho Đạo
Cao Đài được thành lập Quân đội tự vệ, tự chỉ huy lấy không trực thuộc sự lãnh
đạo của chính phủ Nam Kỳ Tự Trị, để bảo vệ sinh mạng tài sản cho chư Tín hữu của
Đạo. (Hết trích).
Phân tích pháp lý:
Chủ thể được quyền thành lập quân đội
Cao Đài là Đạo Cao Đài, không phải Pháp, không phải chính phủ Nam Kỳ Tự Trị. Quyền
lập quân đội năm 1947 là hiếm có trong thời thuộc địa. Việc Pháp “thỏa thuận”
nghĩa là công nhận, không phải “ban cho”.
Ý nghĩa:
Quân đội Cao Đài không phải quân đội
thuộc địa, mà là quân đội do Đạo Cao Đài tự thành lập.
1.2. Độc lập về chỉ huy
Điều thứ nhất: “Tự chỉ huy lấy…”
Điều thứ tám: “Tổng tư lệnh Quân
đội Cao Đài.”
Phân tích pháp lý:
“Tự chỉ huy lấy” nghĩa là không chịu mệnh lệnh của
Pháp. Chức danh “Tổng tư lệnh” là chức danh quân sự tối cao, tương đương cấp quốc
gia. Pháp không có quyền bổ nhiệm, không có quyền cách chức.
Ý nghĩa:
Quân đội Cao Đài có hệ thống chỉ
huy riêng, đứng đầu bởi Tổng tư lệnh Trần Quang Vinh, không nằm trong hệ thống
chỉ huy của Pháp hay Nam Kỳ Tự Trị.
1.3. Độc lập về tổ chức
Điều thứ hai: Quân đội Cao Đài
có toàn quyền huấn luyện sĩ quan và binh sĩ về quân sự ở mặt chiến đấu tự tổ chức
theo Trung đội, Đại đội và bổ dụng nhân sự; có Quân kỳ riêng theo mẫu đã định. (Hết
trích)
Phân tích pháp lý:
“Tự tổ chức”: tự xây dựng cơ cấu
quân đội.
“Tự huấn luyện”: tự đào tạo sĩ
quan, binh sĩ.
“Tự bổ nhiệm”: tự quyết định nhân sự
chỉ huy.
“Quân kỳ riêng”: biểu tượng chủ quyền
quân sự.
Ý nghĩa:
Quân đội Cao Đài có cơ cấu tổ chức
độc lập, không phải đơn vị phụ lực của Pháp, không phải lính của chính phủ Nam
Kỳ Tự Trị; mà là một quân đội có chủ quyền nội bộ.
Quân kỳ là Bảo Sanh Kỳ với tiêu chí
Bảo Sanh - Nhơn Nghĩa – Đại Đồng đã tổ chức Lễ Thượng Kỳ sáng ngày 29-01-1947.
1.4. Độc lập về căn cứ hoạt động
Điều thứ ba: Quân đội Cao Đài được
trọn quyền chọn lựa nơi thiết lập căn cứ đồn trại cho chư Đạo hữu ở, và đóng
quân để bảo vệ sự an toàn khi thấy cần thiết và báo trình cho Sở Giám Binh Pháp
rõ.
Phân tích pháp lý:
Quân đội Cao Đài có quyền chọn nơi
đóng quân, quyền này thuộc về chủ thể quân sự độc lập, không phải đơn vị phụ
thuộc. Việc “báo trình cho Sở Giám Binh Pháp” chỉ là thông báo phối hợp,
không phải xin phép.
Ý nghĩa:
·
Quân
đội Cao Đài có quyền tự lựa chọn nơi đóng quân và bố trí căn cứ hoạt động; có địa
bàn quân sự riêng, tự quyết định vị trí chiến lược, không bị Pháp áp đặt nơi
đóng quân.
1.5. Độc lập về tư pháp
Điều thứ sáu: Hành vi của tổ chức
Cao Đài có tánh chánh trị, nên các phạm nhân của họ bắt được không giao về cho
nhà binh Pháp, ngoại trừ những người đáng đại hình đã phạm, ai cũng đều biết,
những binh sĩ Pháp đào ngũ và những người ngoại quốc đứng trong hàng ngũ Việt
Minh. Quân đội Cao Đài điều tra các phạm nhân có quyền tha những người không đủ
bằng cớ, hay giam những người có tội cho đến chừng Tổng tư lệnh định đoạt.
(Hết trich).
Phân tích pháp lý:
Đây là quyền tư pháp nội bộ: quyền
điều tra, quyền bắt giữ, quyền giam giữ, quyền tha tội. Pháp không được can thiệp,
trừ trường hợp “đại hình” – tức tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Ý nghĩa:
Quân đội Cao Đài có hệ
thống tư pháp riêng, tương đương một thực thể tự trị, không phải lực lượng phụ
thuộc vào tòa án quân
sự Pháp.
(Đức Hộ Pháp 02 lần thả khách phạm
là Việt Minh)
2/. Độc lập đối với Chính phủ Nam Kỳ
Tự Trị
Điều thứ nhất:
“Không trực thuộc sự lãnh đạo của
Chính phủ Nam Kỳ Tự Trị…”
Phân tích pháp lý:
Điều này xác lập địa vị pháp lý đặc
biệt của Quân đội Cao Đài: không nằm trong hệ thống chính phủ Nam Kỳ Tự Trị
(khi đó ông Lê Văn Hoạch là Chủ Tịch Nam Kỳ Tự Trị)
Ý nghĩa:
Quân đội Cao Đài không phải quân đội
của Nam Kỳ Tự Trị, Quân đội Cao Đài của Đạo Cao Đài lập ra và được quyền tự trị.
Tại sao có Chính phủ Nam Kỳ trong
Thỏa Ước ngày 29-01-1947?
Về mặt pháp lý, Quân đội Pháp là đại
diện quân sự tối cao của chính quyền Pháp tại Nam Bộ, quyền lực quốc phòng - an
ninh – quân sự tại Nam Kỳ do Pháp nắm giữ và điều hành thông qua Tư lệnh Quân đội
Pháp miền Nam Việt Nam là Thiếu Tướng De la Tour.
Chính phủ Nam Kỳ Tự Trị tại thời điểm
29‑01‑1947 là một chính quyền hành chính - dân sự, không có quân đội riêng,
không có Bộ Quốc phòng, không có thẩm quyền lập quân đội, nên không thể ký kết
thỏa ước ngày 29-01-1947 liên quan đến Quân đội Cao Đài.
Do đó Thiếu tướng De la Tour với tư
cách Tư lệnh Quân đội Pháp tại miền Nam Việt Nam, ký kết Thỏa ước 29-01-1947.
Điều thứ nhất xác định rõ rằng Quân đội Cao Đài: … không trực thuộc sự lãnh
đạo của chính phủ Nam Kỳ Tự Trị, để bảo vệ sinh mạng tài sản cho chư Tín hữu của
Đạo.
3/- Kết luận.
Thỏa ước ngày 29‑01‑1947 xác nhận
Quân đội Cao Đài: do Đạo Cao Đài thành lập, tự chỉ huy, tự tổ chức - tự huấn
luyện - tự bổ nhiệm, có quân kỳ riêng, tự lựa chọn căn cứ, độc lập về tư pháp, không
trực thuộc Chính phủ Nam Kỳ Tự Trị, và không chịu mệnh lệnh của quân đội Pháp.
Do đó:
Quân đội Cao Đài là một quân đội tự
trị, độc lập về tổ chức và hệ thống chỉ huy. Quan hệ với quân đội Pháp là quan
hệ hợp tác song phương (được điều chỉnh bằng các điều khoản phối hợp tại điều 4,
5, 6, 7, 8 trong Thỏa ước), không phải quan hệ cấp trên – cấp dưới. Quân đội
Cao Đài cũng: không trực thuộc sự lãnh đạo của chính phủ Nam Kỳ Tự Trị,
Theo Thỏa ước ngày 29-01-1947 Quân đội
Cao Đài có 02 tầng độc lập rất rõ ràng.