Bài 2.
Sau khi được giải mật, Document 24 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố năm 1985 trong tập Foreign Relations of the United States, 1955–1957, Vietnam, Volume I.
Tìm hiểu về: ĐẠI TƯỚNG J. LAWTON COLLINS – NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO TỐI MẬT VỀ QUỐC GIA VIỆT NAM NGÀY 20-01-1955.
Báo cáo tối mật được công bố đã soi sáng nhiều việc trong lịch sử Quốc Gia Việt Nam; đặc biệt là giai đoạn Thủ Tướng Ngô Đình Diệm được Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ Tướng ngày 16-06-1954 cho đến ngày 26-10-1955 thì Thủ Tướng Diệm xóa bỏ luôn Quốc Gia Việt Nam để ông thành Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa. Do vậy là một tài liệu cực kỳ quan trọng về nhiều phương diện.
BBT sẽ phân tích, đối chiếu để tìm hiểu thêm.
BBT sắp xếp bố cục:
1/- Đăng nguyên văn báo cáo và bản dịch (có kèm theo lời giới thiệu ngắn gọn về trang Web (bài 6703)
2/- Giới thiệu về Đại Tướng Collins.
3/- Nhiệm vụ của Đại Tướng Collins ở Việt Nam.
4/- Phân tích các góc cạnh của báo cáo để soi sáng thêm những góc khuất trong giải đoạn lịch sử liên quan (đặc biệt là quan điểm của Thủ Tướng Diệm và Các lực lượng kháng cự lại cộng sản trước khi ông Diệm làm Thủ Tướng).
Dĩ nhiên phần phân tích, đối chiếu sẽ có rất nhiều bài với những chứng cứ lịch sử nên cực kỳ hữu ích.
Nay kính.
Dưới đây là bản dự thảo Bài 2, chỉ giới thiệu thân thế, quá trình quân sự và vị trí của Collins. Phần nhiệm vụ cùng thẩm quyền tại Việt Nam sẽ để dành cho Bài 3.
ĐẠI TƯỚNG J. LAWTON COLLINS – NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO TỐI MẬT VỀ VIỆT NAM NGÀY 20-01-1955
1/- Thân thế và học vấn quân sự
Joseph Lawton Collins, thường ký tên và được biết đến dưới tên J. Lawton Collins, sinh ngày 01-05-1896 tại New Orleans, tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point năm 1917 và bắt đầu phục vụ trong binh chủng bộ binh.
Trong những năm tiếp theo, Collins lần lượt được đào tạo tại Trường Bộ binh, Trường Pháo binh, Trường Công nghiệp Lục quân và Trường Chiến tranh Lục quân. Ông cũng từng giảng dạy tại Học viện Quân sự West Point và Trường Chiến tranh Lục quân. Như vậy, trước khi đảm nhiệm những chức vụ chỉ huy cao cấp, Collins đã trải qua cả ba lĩnh vực: chỉ huy quân đội, nghiên cứu tham mưu và giảng dạy quân sự.
2/- Vai trò trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Collins từng làm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Hawaii. Sau đó, ông chỉ huy Sư đoàn 25 Bộ binh trong chiến dịch Guadalcanal ở Thái Bình Dương.
Năm 1944, Collins được điều sang chiến trường châu Âu, giữ chức Tư lệnh Quân đoàn VII Hoa Kỳ. Quân đoàn do ông chỉ huy tham gia cuộc đổ bộ Normandy và các chiến dịch tiến quân qua Tây Âu. Nhờ tốc độ điều quân và cách chỉ huy quyết đoán, ông được biết đến với biệt danh “Lightning Joe” – Joe Sấm Sét.
Kinh nghiệm chỉ huy tại cả chiến trường Thái Bình Dương lẫn châu Âu đưa Collins vào hàng ngũ những tướng lĩnh có uy tín của Lục quân Hoa Kỳ sau chiến tranh. Một công trình của Lục quân Hoa Kỳ về Collins cho biết ông được các sử gia quân sự đánh giá là một trong những tư lệnh quân đoàn xuất sắc của Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. (Army University Press)
3/- Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Collins lần lượt giữ các chức vụ cao cấp trong Bộ Tham mưu Lục quân. Ngày 16-08-1949, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ và giữ chức vụ này đến ngày 14-08-1953.
Trong thời gian Collins đứng đầu Lục quân, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Vì vậy, ông trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành và phát triển Lục quân Hoa Kỳ trong một giai đoạn quan trọng của Chiến tranh lạnh. Ông cũng góp phần xác định vai trò của Lục quân Hoa Kỳ trong cơ cấu quân sự mới được thành lập của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương – NATO. (Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ)
Sau khi mãn nhiệm Tham mưu trưởng Lục quân, Collins được cử làm Đại diện Hoa Kỳ tại Ủy ban Quân sự và Nhóm Thường trực của NATO, từ tháng 8-1953 đến tháng 10-1954.
4/- Được Tổng thống Eisenhower cử sang Việt Nam
Ngày 03-11-1954, Tổng thống Dwight D. Eisenhower cử Đại tướng Collins làm Đại diện đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ tại Việt Nam, mang hàm cá nhân Đại sứ.
Collins đến Sài Gòn trong hoàn cảnh Quốc gia Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề lớn sau Hiệp định Genève năm 1954:
đất nước bị chia cắt;
người tị nạn từ miền Bắc di chuyển vào miền Nam;
Quân đội Quốc gia đang được tổ chức lại;
ảnh hưởng của Pháp chưa chấm dứt;
Thủ tướng Ngô Đình Diệm chưa tạo được hậu thuẫn chính trị rộng rãi;
Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên đều có lực lượng võ trang cùng ảnh hưởng chính trị riêng;
Hoa Kỳ đang từng bước thay Pháp giữ vai trò viện trợ chủ yếu cho Quốc gia Việt Nam.
Việc Eisenhower chọn một cựu Tham mưu trưởng Lục quân, thay vì một nhà ngoại giao thông thường, cho thấy Hoa Kỳ xem tình hình Việt Nam khi ấy vừa là một vấn đề chính trị–ngoại giao, vừa là một vấn đề quân sự và an ninh đặc biệt quan trọng.
5/- Vị trí của Collins khi viết báo cáo ngày 20-01-1955
Khi lập báo cáo ngày 20-01-1955, Collins không còn là Tham mưu trưởng Lục quân, nhưng vẫn mang quân hàm Đại tướng và đang giữ chức Đại diện đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ tại Việt Nam, với hàm cá nhân Đại sứ.
Ngay phần đầu báo cáo, Collins cho biết ông mới có mặt tại Việt Nam khoảng hai tháng. Vì vậy, báo cáo vừa phản ánh kinh nghiệm của một tướng lĩnh và nhà tham mưu cao cấp, vừa mang giới hạn của một người mới trực tiếp khảo sát tình hình Việt Nam trong một thời gian tương đối ngắn.
Điểm cần chú ý là Collins không phải một sử gia đứng ngoài sự kiện. Ông là người được Tổng thống Eisenhower tin cậy cử sang để trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề của Quốc gia Việt Nam. Do đó, báo cáo của ông có giá trị đặc biệt trong việc tìm hiểu cách giới lãnh đạo Hoa Kỳ nhìn nhận Việt Nam đầu năm 1955.
Tuy nhiên, nhiệm vụ cụ thể, phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của Collins đối với chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam cần được trình bày riêng, bởi đây là căn cứ quan trọng để xác định báo cáo ngày 20-01-1955 chỉ là ý kiến cá nhân của một người quan sát hay là đề nghị chính sách của một đại diện có thực quyền.
Nội dung ấy sẽ được trình bày trong bài tiếp theo:
NHIỆM VỤ, THẨM QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA ĐẠI TƯỚNG J. LAWTON COLLINS TẠI VIỆT NAM
Nguồn tham khảo
Chú ý:
Bài 2: giúp biết rõ Collins là ai nhưng chưa đưa quyền hạn của ông vào quá sâu, vì nó thuộc về Bài 3 vẫn còn nguyên phần tài liệu quan trọng để trình bày.
Sau khi được giải mật, Document 24 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố năm 1985 trong tập Foreign Relations of the United States, 1955–1957, Vietnam, Volume I.