Trang

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

6608. Nghĩ về chữ Mẫu trong Đạo Đức Kinh.

 Nghĩ về chữ Mẫu trong Đạo Đức Kinh. 

 


Mở đầu Đạo Đức Kinh Đức Lão Tử viết: 

A- Đạo khả đạo, phi thường Đạo;

Danh khả danh, phi thường Danh


B- Vô danh thiên địa chi thủy,

Hữu danh vạn vật chi mẫu.

Bài viết tìm hiểu chữ MẪU trong đoạn trên. 

1/- Cụ Nguyễn Duy Cần dịch nghĩa:

B- Không tên là gốc của Trời-Đất;

Có tên là mẹ của vạn vật. (1)

Bình chú:

B- "Không tên" (Vô danh) là cái thể. "Có tên", (Hữu danh) là cái tướng. "Không tên" là chỉ về thời kỳ "tiên thiên", Đạo chưa hiện lộ ra. "Có tên" là chỉ về thời kỳ "hậu thiên", lúc mà Đạo đã hiện lộ ra, cùng một ý với chữ "danh tướng" của nhà Phật. Đây cũng là ý nghĩa của câu "Hữu sanh ư Vô" của Lão Tử sau này. Câu một và hai thừa tiếp nhau: câu trên là thể, câu dưới là tướng (2). (hết trích)

Tóm lại theo Cụ Nguyễn Duy Cần:

  • Vô danh → Đạo ở trạng thái tuyệt đối, chưa phân biệt, là gốc của trời đất.
  • Hữu danh → Đạo đã biểu hiện thành thế giới sai biệt, nên là mẹ của muôn vật.


2/- Hậu học xin thưa.

  • Vô danh là trạng thái tự nhiên chưa được định danh.
  • Hữu danh là quá trình con người đặt tên và quy ước.
  • Mẫu là khuôn chung được hình thành từ quá trình định danh ấy, để mọi người cùng nhận biết và sử dụng.
2.1/- Lý hội chữ Mẫu

Hậu học nghĩ rằng chữ "mẫu" ở đây có thể được hiểu theo nghĩa "mẫu mực", "khuôn chung", "chuẩn chung".

Lý do rất đơn giản.

Tạo hóa đã có ngày và đêm từ trước khi con người xuất hiện. Khi ấy chưa có thứ Hai, thứ Ba, tháng hay năm, .... Thấy trăng tròn, trăng khuyết nhưng không có ngày Rằm hay mùng Một. Thời tiết có nóng, có lạnh nhưng chẳng có tên 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông. Đó là vô danh.

Sau này con người đặt tên cho các ngày, lập lịch âm, lịch dương và nhiều loại lịch khác. Từ đó, hễ nói đến một ngày nào thì mọi người đều cùng hiểu. Những tên gọi ấy không tạo ra ngày đêm, nhưng tạo nên quy ước chung của xã hội.

Hay một đứa trẻ khi mới sinh chỉ là một con người với những đặc điểm tự nhiên. Con người quan sát sự khác biệt rồi dùng những danh xưng như con trai, con gái để phân biệt. Những danh xưng ấy không tạo nên bản chất của đứa trẻ, nhưng trở thành khuôn nhận biết chung để mọi người cùng sử dụng.

Tên người, tên cây, tên sông, tên núi... cũng đều như vậy.

Sự vật có trước.

Danh có sau.

Nhưng khi đã có danh, danh trở thành khuôn chung để xã hội cùng nhận biết, cùng giao tiếp và cùng sử dụng.

Theo cách nhìn ấy, tiến trình có thể hiểu là:

Vô danh → Hữu danh → Mẫu mực.

Nói cách khác, "mẫu" không tách rời "vô danh", mà chính là kết quả hình thành sau khi con người dùng danh để xây dựng trật tự nhận thức và giao tiếp.

Đó chỉ là một cách hiểu mà tôi xin được trình bày để có thêm cách hiểu về chữ Mẫu. Hậu học không có ý phủ nhận cách giải thích của cụ Nguyễn Duy Cần. 

2.2/- Đối chiếu vào hệ tư tưởng Đạo Đức Kinh.

 Phần trên, tôi trình bày một cách hiểu khác rằng chữ "mẫu" trong câu:

Vô danh thiên địa chi thủy,
Hữu danh vạn vật chi mẫu.

được hiểu theo nghĩa mẫu mực, khuôn chung hay chuẩn chung của xã hội.

Nếu chỉ dừng lại ở việc giải thích một chữ thì cách hiểu này vẫn còn chưa đủ. Một cách giải thích chỉ thật sự có giá trị khi không chỉ phù hợp với một câu, mà còn có thể hòa hợp với hệ thống tư tưởng của toàn bộ tác phẩm.

Vì vậy, tôi xin thử đối chiếu cách hiểu trên với hai nguyên lý quan trọng của Đạo Đức Kinh.

Đối chiếu 1: Hữu sinh ư Vô (Chương 40)

Điều này có thể nhận thấy ngay trong đời sống.

Ngày đêm có trước khi con người đặt tên.

Sông núi có trước khi con người gọi tên.

Con người có trước khi được đặt tên.

Muôn vật tồn tại trước khi được phân loại.

Đó là trạng thái Vô danh.

Khi con người dùng ngôn ngữ để gọi tên, phân biệt và quy ước, Hữu danh mới xuất hiện.

Như vậy, Hữu danh không sinh ra sự vật, mà hình thành trên nền tảng của Vô danh.

Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên lý Hữu sinh ư Vô.

Đới chiếu 2: Hữu Vô tương sanh (Chương 2)

Vô và Hữu không phủ nhận nhau mà nương nhau để thành.

Nếu áp dụng vào Vô danh và Hữu danh, ta cũng thấy cùng một quy luật.

Không có Vô danh thì không có đối tượng để gọi tên.

Không có Hữu danh thì con người không thể cùng nhau nhận biết, giao tiếp và xây dựng đời sống xã hội.

Nói cách khác:

  • Vô danh là nền tảng tự nhiên.
  • Hữu danh là trật tự nhận thức của xã hội.

Hai mặt ấy không đối lập mà bổ sung cho nhau.

Chữ "Mẫu" trong tiến trình ấy

Nếu Hữu danh là quá trình con người thống nhất cách gọi sự vật, thì kết quả của quá trình ấy là hình thành một mẫu mực chung.

Từ đó, hễ nói đến một danh xưng thì mọi người đều cùng hiểu một đối tượng.

Danh không tạo ra sự vật.

Danh tạo nên khuôn chung để xã hội cùng nhận biết, cùng giao tiếp và cùng sử dụng.

Theo cách nhìn này, chữ "mẫu" không còn đứng riêng lẻ mà nằm trong một tiến trình thống nhất:

Vô danh → Hữu danh → Mẫu mực.

Trong tiến trình ấy:

  • Vô danh là khởi đầu.
  • Hữu danh là sự hình thành của quy ước xã hội.
  • Mẫu là kết quả của quá trình ấy, tức khuôn chung để mọi người cùng nhận biết và sử dụng.

Hiểu chữ "mẫu" theo nghĩa này thì nó không chỉ giải thích được câu mở đầu của Đạo Đức Kinh, mà còn có thể được xem là một cách diễn giải phù hợp với hai nguyên lý xuyên suốt của tác phẩm là "Hữu sinh ư Vô" và "Hữu Vô tương sanh".


3/- Trang 169: Minh họa từ Cụ Nguyễn Duy Cần. chữ Mẫu

Trang 169, cụ Nguyễn Duy Cần viết:  Một khi Đạo mất rồi bày ra Nhơn Nghĩa Pháp độ thì mới có đặt ra danh phận, cho nên mới nói pháp độ bày ra thì mới có tên ..

 

Hậu học hiểu là: "Pháp độ bày ra thì mới có đặt ra danh phận, cho nên mới có tên..." Đây là một minh họa giúp hiểu chữ "mẫu" trong câu "Hữu danh vạn vật chi mẫu". Khi pháp độ được lập thì danh phận được xác định, sự vật có khuôn phép và mới có tên. Theo cách hiểu này, "mẫu" không chỉ mang nghĩa "mẹ sinh", mà còn gợi nghĩa "khuôn mẫu chung" để vạn vật được định hình và phân biệt.

4/- Kính thưa cụ Nguyễn Duy Cần. 

Hậu học rất kính phục Cụ, công lao giới thiệu Đạo Đức Kinh đến nhiều thế hệ độc giả Việt Nam. Những trang sách của cụ đã giúp hậu học đến với Lão Tử và suy ngẫm về triết học phương Đông.

Hậu học không có ý phủ nhận cách giải thích của Cụ, mà chỉ góp thêm một góc nhìn khác. Nếu những ví dụ trong đời sống có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa vô danhhữu danh.

Người đi sau kính trọng người đi trước, học hỏi với người đi trước, không nhất thiết phải lặp lại cách hiểu của người đi trước, nên căn cứ vào sự quan sát, phân tích khép nép trình bày một cách hiểu về chữ MẪU. Có điều chi thất thố xin Cụ và quý vị vui lòng bỏ quá.

Dương Xuân Lương. 
Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com 


Chú thích 1.

Theo bản in năm năm 1992 của nhà xuất bản Văn Học.


 

2/-