Nghĩ về chữ Mẫu trong Đạo Đức Kinh.
Mở đầu Đạo Đức Kinh Đức Lão Tử viết:
A- Đạo khả đạo, phi thường Đạo;
Danh khả danh, phi thường Danh
B- Vô danh thiên địa chi thủy,
Hữu danh vạn vật chi mẫu.
Bài viết tìm hiểu chữ MẪU trong đoạn trên.
1/- Cụ Nguyễn Duy Cần dịch nghĩa:
B- Không tên là gốc của Trời-Đất;
Có tên là mẹ của vạn vật. (1)
Bình chú:
B- "Không tên" (Vô danh) là cái thể. "Có tên", (Hữu danh) là cái tướng. "Không tên" là chỉ về thời kỳ "tiên thiên", Đạo chưa hiện lộ ra. "Có tên" là chỉ về thời kỳ "hậu thiên", lúc mà Đạo đã hiện lộ ra, cùng một ý với chữ "danh tướng" của nhà Phật. Đây cũng là ý nghĩa của câu "Hữu sanh ư Vô" của Lão Tử sau này. Câu một và hai thừa tiếp nhau: câu trên là thể, câu dưới là tướng (2). (hết trích)
Tóm lại theo Cụ Nguyễn Duy Cần:
- Vô
danh → Đạo ở trạng thái tuyệt đối, chưa phân biệt, là gốc của
trời đất.
- Hữu
danh → Đạo đã biểu hiện thành thế giới sai biệt, nên là mẹ của
muôn vật.
2/- Hậu học xin thưa.
- Vô
danh là trạng thái tự nhiên chưa được định danh.
- Hữu
danh là quá trình con người đặt tên và quy ước.
- Mẫu là khuôn chung được hình thành từ quá trình định danh ấy, để mọi người cùng nhận biết và sử dụng.
Hậu học nghĩ rằng chữ "mẫu" ở đây có thể được hiểu
theo nghĩa "mẫu mực", "khuôn chung", "chuẩn
chung".
Lý do rất đơn giản.
Tạo hóa đã có ngày và đêm từ trước khi con người xuất hiện.
Khi ấy chưa có thứ Hai, thứ Ba, tháng hay năm, .... Thấy trăng tròn, trăng khuyết nhưng không có ngày Rằm hay mùng Một. Thời tiết có nóng, có lạnh nhưng chẳng có tên 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông. Đó là vô danh.
Sau này con người đặt tên cho các ngày, lập lịch âm, lịch
dương và nhiều loại lịch khác. Từ đó, hễ nói đến một ngày nào thì mọi người đều
cùng hiểu. Những tên gọi ấy không tạo ra ngày đêm, nhưng tạo nên quy ước
chung của xã hội.
Hay một đứa trẻ khi mới sinh chỉ là một con người với những
đặc điểm tự nhiên. Con người quan sát sự khác biệt rồi dùng những danh xưng như
con trai, con gái để phân biệt. Những danh xưng ấy không tạo nên
bản chất của đứa trẻ, nhưng trở thành khuôn nhận biết chung để mọi người
cùng sử dụng.
Tên người, tên cây, tên sông, tên núi... cũng đều như vậy.
Sự vật có trước.
Danh có sau.
Nhưng khi đã có danh, danh trở thành khuôn chung để xã hội
cùng nhận biết, cùng giao tiếp và cùng sử dụng.
Theo cách nhìn ấy, tiến trình có thể hiểu là:
Vô danh → Hữu danh → Mẫu mực.
Nói cách khác, "mẫu" không tách rời "vô
danh", mà chính là kết quả hình thành sau khi con người dùng danh
để xây dựng trật tự nhận thức và giao tiếp.
Đó chỉ là một cách hiểu mà tôi xin được trình bày để có thêm cách hiểu về chữ Mẫu. Hậu học không có ý phủ nhận cách giải thích của cụ Nguyễn Duy Cần.
2.2/- Đối chiếu vào hệ tư tưởng Đạo Đức Kinh.
Phần trên, tôi trình bày một cách hiểu khác rằng chữ "mẫu" trong câu:
Vô danh thiên địa chi thủy,
Hữu danh vạn vật chi mẫu.
được hiểu theo nghĩa mẫu mực, khuôn chung
hay chuẩn chung của xã hội.
Nếu chỉ dừng lại ở việc giải thích một chữ thì cách hiểu này vẫn còn chưa đủ. Một cách giải thích chỉ thật sự có giá trị khi không chỉ phù hợp với một câu, mà còn có thể hòa hợp với hệ thống tư tưởng của toàn bộ tác phẩm.
Vì vậy, tôi xin thử đối chiếu cách hiểu trên với hai nguyên
lý quan trọng của Đạo Đức Kinh.
Đối chiếu 1: Hữu sinh ư Vô (Chương 40)
Điều này có thể nhận thấy ngay trong đời sống.
Ngày đêm có trước khi con người đặt tên.
Sông núi có trước khi con người gọi tên.
Con người có trước khi được đặt tên.
Muôn vật tồn tại trước khi được phân loại.
Đó là trạng thái Vô danh.
Khi con người dùng ngôn ngữ để gọi tên, phân biệt và quy ước,
Hữu danh mới xuất hiện.
Như vậy, Hữu danh không sinh ra sự vật, mà hình thành
trên nền tảng của Vô danh.
Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên lý Hữu sinh ư Vô.
Đới chiếu 2: Hữu Vô tương sanh (Chương 2)
Vô và Hữu không phủ nhận nhau mà nương nhau để thành.
Nếu áp dụng vào Vô danh và Hữu danh, ta cũng
thấy cùng một quy luật.
Không có Vô danh thì không có đối tượng để gọi tên.
Không có Hữu danh thì con người không thể cùng nhau
nhận biết, giao tiếp và xây dựng đời sống xã hội.
Nói cách khác:
- Vô
danh là nền tảng tự nhiên.
- Hữu
danh là trật tự nhận thức của xã hội.
Hai mặt ấy không đối lập mà bổ sung cho nhau.
Chữ "Mẫu" trong tiến trình ấy
Nếu Hữu danh là quá trình con người thống nhất cách gọi
sự vật, thì kết quả của quá trình ấy là hình thành một mẫu mực chung.
Từ đó, hễ nói đến một danh xưng thì mọi người đều cùng hiểu
một đối tượng.
Danh không tạo ra sự vật.
Danh tạo nên khuôn chung để xã hội cùng nhận biết,
cùng giao tiếp và cùng sử dụng.
Theo cách nhìn này, chữ "mẫu" không còn đứng
riêng lẻ mà nằm trong một tiến trình thống nhất:
Vô danh → Hữu danh → Mẫu mực.
Trong tiến trình ấy:
- Vô
danh là khởi đầu.
- Hữu
danh là sự hình thành của quy ước xã hội.
- Mẫu
là kết quả của quá trình ấy, tức khuôn chung để mọi người cùng nhận biết
và sử dụng.
Hiểu chữ "mẫu" theo nghĩa này thì nó
không chỉ giải thích được câu mở đầu của Đạo Đức Kinh, mà còn có thể được
xem là một cách diễn giải phù hợp với hai nguyên lý xuyên suốt của tác phẩm là "Hữu
sinh ư Vô" và "Hữu Vô tương sanh".
3/- Trang 169: Minh họa từ Cụ Nguyễn Duy Cần. chữ Mẫu
Trang 169, cụ Nguyễn Duy Cần viết: Một khi Đạo mất rồi bày ra Nhơn Nghĩa Pháp độ thì mới có đặt ra danh phận, cho nên mới nói pháp độ bày ra thì mới có tên ..
Hậu học hiểu là: "Pháp độ bày ra thì mới có đặt ra danh phận, cho nên mới
có tên..." Đây là một minh họa giúp hiểu chữ "mẫu" trong câu
"Hữu danh vạn vật chi mẫu". Khi pháp độ được lập thì danh phận được
xác định, sự vật có khuôn phép và mới có tên. Theo cách hiểu này, "mẫu"
không chỉ mang nghĩa "mẹ sinh", mà còn gợi nghĩa "khuôn mẫu
chung" để vạn vật được định hình và phân biệt.
Hậu học rất kính phục Cụ, công lao giới thiệu Đạo
Đức Kinh đến nhiều thế hệ độc giả Việt Nam. Những trang sách của cụ đã giúp hậu học đến với Lão Tử và suy ngẫm về triết học phương Đông.
Hậu học không có ý phủ nhận cách giải thích của Cụ, mà chỉ góp thêm một góc nhìn khác. Nếu những ví dụ trong đời sống có thể
giúp người đọc hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa vô danh và hữu danh.
Người đi sau kính trọng người đi trước, học hỏi với người đi trước, không nhất thiết phải lặp lại cách hiểu của người đi trước, nên căn cứ vào sự quan sát, phân tích khép nép trình bày một cách hiểu về chữ MẪU. Có điều chi thất thố xin Cụ và quý vị vui lòng bỏ quá.
Dương Xuân Lương.
Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
Chú thích 1.
Theo bản in năm năm 1992 của nhà xuất bản Văn Học.
2/-