Theo đề nghị của nhiều bạn đọc: (1): BBT chỉ cần đăng link dẫn nguồn nguyên văn bản Anh Văn. (2): Bản dịch nên có phần tóm lược những điểm chính. Do vậy từ TL 04 BBT sẽ thực hiện theo đề nghị bạn đọc. Thành thật cảm ơn quý vị đã góp ý. Nay kính.
Link bài: Điện văn ngày 15-11-1954.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1320?utm_source=chatgpt.com
Trong điện văn ngày 15-11-1954 trên đây, đề cập đến viện trợ, do vậy BBT kèm theo phụ lục là Thư của Tổng Thống Mỹ do Đại sứ Donald R. Heath trao cho ông Ngô Đình Diệm lúc 7 giờ 30 tối ngày 23-10-1954 tại Sài Gòn. (Phụ lục này không nằm trong danh mục 98 văn bản)
Link phụ lục:
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1271?utm_source=chatgpt.com
GPT DỊCH Điện văn ngày 15-11-1954.
GPT DỊCH.
Quan hệ
Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 2
120.251G/11–1554:
Điện văn
Đại biện
Hoa Kỳ tại Việt Nam (Kidder) gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Tối mật
Ưu tiên
Sài Gòn,
ngày 15 tháng 11 năm 1954 — 10 giờ tối.
1830. Chuyển để biết, với mức ưu tiên, đến
Paris, số 602. Từ Collins.
Phần thứ
nhất
Những
nhận định tổng quát và kiến nghị đầu tiên:
1.
Ông Diệm
là một người nhỏ con, nhút nhát, thiếu tự tin và hầu như không có sức thu hút
cá nhân. Rõ ràng ông thiếu lòng tin vào chính mình và dường như vốn không thích
hành động quyết đoán. Cách ông xử lý vụ Tướng Hinh kể từ khi tôi có mặt tại đây
có xu hướng củng cố nhận định này.
2.
Tôi chưa
trực tiếp gặp ông Diệm đủ nhiều để đánh giá những phẩm chất tích cực hơn của
ông; tôi cũng chưa biết ông có ảnh hưởng như thế nào đối với người dân Việt
Nam. Tuy hiện nay tôi chưa sẵn sàng đưa ra một nhận định tổng quát về ông Diệm,
nhưng tôi có thể nói rằng tôi hoàn toàn chưa tin chắc ông có sẵn năng lực điều
hành đất nước trong giai đoạn nguy cấp này.
Hơn nữa,
nhận định rõ ràng của tôi là mỗi ngày trôi qua trong tình trạng thiếu quyết
đoán chắc chắn sẽ làm suy giảm bất cứ niềm tin nào mà dân chúng có thể dành cho
chính phủ của ông.
3.
Thông tin
từ nhiều nguồn khác nhau khiến tôi tin rằng Nội các của ông Diệm phải được tăng
cường đáng kể và phải thực hiện việc này trong một thời gian khá ngắn. Hai chức
vụ then chốt lúc này là Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Nội vụ.
Có lẽ nếu
hai chức vụ này được bổ nhiệm theo đường hướng mà Alessandri đã đề nghị với ông
Diệm — Điện văn Đại sứ quán số 1796 — thì một cuộc cải tổ như vậy có thể đem lại
cho chính phủ sự tăng cường cần thiết. Tuy nhiên, tôi chưa có mặt tại đây đủ
lâu để phán đoán rằng, nếu đề nghị này được chấp thuận, liệu nó có thực sự giải
quyết được vấn đề hay không.
4.
Tôi đặc biệt
chú ý đến ảnh hưởng sâu rộng của người Pháp trong các mặt chính trị, kinh tế và
quân sự của tình hình tại đây. Chắc chắn rằng nếu Quân đoàn Viễn chinh Pháp bị
rút đi quá sớm, hậu quả có thể sẽ tai hại.
Tương tự,
sẽ là thiếu khôn ngoan nếu chúng ta tìm cách thay thế tư bản Pháp và các cố vấn
Pháp trong các lĩnh vực ngân hàng, kiểm soát tiền tệ và những vấn đề kinh doanh
liên quan. Bất cứ hành động nào như vậy cũng có thể đặt lên chúng ta những
nghĩa vụ nặng nề và kéo dài, tương tự những nghĩa vụ mà chúng ta đã đảm nhận tại
Philippines và Triều Tiên.
[Trang
2251]
5.
Trong lĩnh
vực quân sự, những vấn đề cấp bách nhất là xác định quân số, cơ cấu và nhiệm vụ
của Quân đội Việt Nam. Tôi đang tập trung vào những vấn đề này.
6.
Tướng Ely
đã đặt nghi vấn về tính đúng đắn của giả định cho rằng chúng ta có thể dựa vào
sự đe dọa hành động theo Hiệp ước Manila để ngăn Việt Minh tái diễn các hoạt động
quân sự chống lại phần Việt Nam tự do.
Tôi đồng ý
với ông rằng, cho đến khi kết thúc giai đoạn hiện được dự trù dành cho cuộc tuyển
cử, cần phải duy trì đầy đủ các lực lượng chiến đấu — cả Pháp lẫn Việt Nam — để
bảo đảm một cách hợp lý rằng đất nước không thể bị nhanh chóng tràn ngập trong
khi chờ các quốc gia thuộc Hiệp ước Manila hành động.
Do đó, tôi
cho rằng trong giai đoạn này chúng ta nên tiếp tục cung cấp một phần viện trợ
cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp.
7.
Cũng như
Tướng O’Daniel, tôi tin chắc rằng nếu trong Quân đội Việt Nam không có một số lực
lượng chiến đấu có khả năng ra trận, thì ảnh hưởng về tinh thần đối với cả dân
chúng lẫn quân đội Việt Nam sẽ rất xấu; đồng thời, sự thiếu sót này sẽ bị Việt
Minh khai thác để gây bất lợi cho chúng ta.
Mặc dù có
những khuyết điểm, Quân đội Việt Nam vẫn là lực lượng bản xứ duy nhất có tổ chức
và có tính thống nhất trong nước. Vì vậy, trong tình hình hiện tại, đề nghị giảm
một nửa quân số hiện có, đồng thời không dành chỗ cho các lực lượng chiến đấu
thực thụ, không phải là một giải pháp khả thi và sẽ không được phía Việt Nam chấp
nhận.
Có lẽ sẽ rất
khó thuyết phục ông Diệm chấp nhận việc cắt giảm mạnh quân số mà tôi sẽ đề nghị,
như được trình bày trong Phần thứ hai của điện văn này.
8.
Một lực lượng
phòng vệ Việt Nam tương đối cân đối, được tổ chức chủ yếu để thiết lập và duy
trì an ninh nội bộ, đồng thời vẫn bao gồm một lực lượng ngăn chặn nhỏ, có thể
được xây dựng trong giới hạn 90.000 quân, với chi phí hằng năm cho Hoa Kỳ
khoảng 200 triệu đô-la.
Mặc dù việc
đưa lực lượng chiến đấu vào Quân đội Việt Nam trái với quan niệm được trình bày
tại đoạn 2 trong bản chỉ thị nhiệm vụ của tôi, tôi vẫn cho rằng việc này phải
được thực hiện.
Lực lượng ấy
không những được chuẩn bị để hỗ trợ Quân đoàn Viễn chinh Pháp trong trường hợp
chiến sự tái diễn, mà còn có thể cần thiết để tăng cường cho những đơn vị thường
xuyên được giao nhiệm vụ duy trì an ninh nội bộ.
9.
Cần lưu ý
rằng trong bảng tổ chức lực lượng được trình bày tại Phần thứ hai, không có dự
liệu thành lập một lực lượng hiến binh riêng biệt. Các sư đoàn địa phương được
nêu ra có nhiệm vụ duy trì an ninh nội bộ.
Hơn nữa,
các lực lượng quân sự hiện hữu của Cao Đài, Hòa Hảo và các đoàn thể khác sẽ được
sáp nhập vào các sư đoàn địa phương và trở thành một bộ phận của Quân đội Quốc
gia. Như vậy, quân đội sẽ là lực lượng quân sự trên bộ duy nhất trong nước, ngoại
trừ một lực lượng cảnh sát nhỏ đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ trưởng Nội vụ.
[Trang
2252]
Có thể cần
phải điều chỉnh quan niệm này sau khi phối hợp với các nhà chức trách Việt Nam.
Phần thứ hai
Phần thứ
hai
1.
Sau đây là
cơ cấu lực lượng Việt Nam mà tôi đề nghị cho tài khóa 1956. Bản ước tính
chi phí kèm theo được lập trên giả định rằng trang bị ban đầu đã có sẵn tại
đây.
(a) Lục
quân
|
Thành
phần |
Quân
số |
|
(1) Bộ Tổng
hành dinh Quốc gia |
2.500 |
|
(2) Ba Bộ
Tư lệnh Sư đoàn địa phương, mỗi Bộ Tư lệnh 800 người |
2.400 |
|
(3) Bộ
Chỉ huy của 13 Trung đoàn an ninh, mỗi Bộ Chỉ huy 200 người |
2.600 |
|
(4) 39
Tiểu đoàn an ninh, mỗi Tiểu đoàn 500 người |
19.500 |
|
(5) Ba
Sư đoàn dã chiến, mỗi Sư đoàn 8.450 người |
25.350 |
Mỗi Sư
đoàn gồm:
- Bộ Tư lệnh: 200 người;
- 3 Trung đoàn nhẹ, mỗi Trung
đoàn 2.350 người;
- 1 Tiểu đoàn pháo binh 105 ly:
400 người;
- 1 Đại đội truyền tin: 160 người;
- 1 Đại đội trinh sát: 90 người;
- 1 Đại đội công binh: 150 người;
- 1 Đại đội vận tải: 150 người;
- 1 Đại đội bảo trì: 125 người;
- 1 Đại đội quân y: 125 người.
Mỗi Trung
đoàn nhẹ gồm:
- Bộ Chỉ huy: 150 người;
- 3 Tiểu đoàn nhẹ, mỗi Tiểu đoàn
700 người, tổng cộng 2.100 người;
- 1 Đại đội vũ khí nặng: 100 người.
|
Thành
phần tiếp theo |
Quân
số |
|
(6) Một
Trung đoàn chiến đấu Nhảy dù |
3.700 |
|
(7) Các
đơn vị trực thuộc Lục quân |
11.635 |
|
(8) Các
đơn vị truyền tin |
3.000
quân nhân; 4.000 nhân viên dân sự |
|
(9) Các
trường và trại huấn luyện |
3.000 |
|
(10)
Quân số đang trong hệ thống tiếp nhận, huấn luyện và bổ sung |
4.000 |
|
(11) Tổng
số Lục quân |
77.685
quân nhân; 4.000 nhân viên dân sự |
(12)
Chi phí ước tính của Lục quân trong tài khóa 1956: 172.580.000 đô-la.
(b) Hải
quân
|
Thành
phần |
Quân
số |
|
(1) Bộ
Tư lệnh, các bộ tham mưu và cơ quan phục vụ |
700 quân
nhân; 250 nhân viên dân sự |
|
(2) Trường
huấn luyện |
400 |
|
(3) Thủy
thủ đoàn các chiến hạm |
1.900 |
|
(4) Tổng
số Hải quân |
3.000
quân nhân; 250 nhân viên dân sự |
(5) Chi
phí ước tính của Hải quân trong tài khóa 1956: 10.039.000 đô-la.
(c)
Không quân
|
Thành
phần |
Quân
số |
|
(1) Bộ
Tư lệnh, các bộ tham mưu và cơ quan phục vụ |
1.000
quân nhân; 150 nhân viên dân sự |
|
(2) Hai
Phi đoàn liên lạc và một Phi đoàn vận tải |
2.000 |
|
(3) Tổng
số Không quân |
3.000
quân nhân; 150 nhân viên dân sự |
(4) Chi
phí ước tính của Không quân trong tài khóa 1956: 10.529.000 đô-la.
(5) Ghi
chú: Trong năm thứ
hai, bổ sung một Phi đoàn tiêm kích, một Phi đoàn vận tải và 1.000 quân nhân.
(d) Tổng
quân số
Tổng lực
lượng vũ trang: 83.685 quân nhân và 4.400 nhân viên dân sự.
(e) Tổng
chi phí lực lượng vũ trang
Tổng
chi phí ước tính của lực lượng vũ trang trong tài khóa 1956: 193.148.000 đô-la.
(f) Chi
phí hoạt động của MAAG
Chi phí ước
tính cho hoạt động của Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ (MAAG)
trong tài khóa 1956, kể cả lương của 150 nhân viên dân sự Hoa Kỳ:
8.500.000
đô-la.
(g) Tổng
chi phí ước tính
Tổng
chi phí ước tính trong tài khóa 1956: 201.648.000 đô-la.
2.
Cần nhận
thấy rằng các lực lượng Việt Nam, chủ yếu là Lục quân, phải được giảm từ quân số
hiện tại khoảng 170.000 người xuống cho phù hợp với cơ cấu được đề nghị.
Tôi hình
dung việc giảm quân số này sẽ được thực hiện bằng một quá trình giải ngũ có chọn
lọc, nhằm giữ lại những sĩ quan, hạ sĩ quan, chuyên viên và đơn vị ưu tú nhất.
[Trang
2253]
Quá trình
này sẽ cần khoảng sáu tháng, kể cả thời gian cần thiết để tái bố trí các đơn vị.
Việc đẩy nhanh tiến độ giảm quân số được xem là vừa không khả thi, vừa không
thích hợp, vì những khó khăn về hành chính và ảnh hưởng tai hại đối với tinh thần
quân đội.
Chi phí viện
trợ của Hoa Kỳ trong thời gian còn lại của tài khóa 1955 chưa được tính toán,
nhưng có lẽ sẽ vào khoảng 100 triệu đô-la. Dĩ nhiên, đây sẽ là khoản chi
trong nửa sau tài khóa 1955 và nằm ngoài chi phí dành cho cơ cấu lực lượng được
đề nghị trong tài khóa 1956.
3.
Tôi xin nhấn
mạnh rằng, mặc dù lực lượng vũ trang được đề nghị cho tài khóa 1956 có cơ cấu gồm
sáu sư đoàn, về căn bản đây vẫn là một lực lượng bảo đảm an ninh nội bộ.
Các sư
đoàn địa phương về thực chất là những Bộ Chỉ huy quân khu hiện có, được tổ chức
để mỗi tỉnh có một hoặc hai tiểu đoàn an ninh, đặt dưới các trung đoàn an ninh
— hiện nay được đại diện bởi nhiều bộ chỉ huy trung gian khác nhau.
Ba sư đoàn
dã chiến cung cấp những lực lượng cơ động cần thiết để tăng viện cho các đơn vị
cấp tỉnh, đồng thời tạo thành một lực lượng che chắn trong trường hợp xảy ra
xâm lược. Vai trò thứ hai này là thiết yếu nhằm ngăn đất nước bị nhanh chóng
tràn ngập trước khi viện trợ từ bên ngoài có thể được huy động.
Cả lực lượng
địa phương lẫn lực lượng dã chiến sẽ làm nền tảng cho việc phát triển các đơn vị
dự bị trong thời bình; đến lượt các đơn vị dự bị này sẽ cho phép mở rộng quân đội
khi xảy ra tình trạng khẩn cấp quốc gia.
Công thức
sáu sư đoàn cũng là một phương tiện để phần nào giải tỏa mối quan ngại và sự thất
vọng của phía Việt Nam và phía Pháp trước việc chúng ta phản đối kế hoạch của họ
muốn tổ chức 10 sư đoàn Việt Nam, ngoài một lực lượng an ninh địa phương
đông đảo.
4.
Đặc biệt
lưu ý rằng gần 80% chi phí ước tính trong tài khóa 1956 được dành cho
lương thực, quân phục, tiền lương và các khoản phụ cấp. Hiện nay, các khoản này
tiêu tốn 5,70 đô-la cho mỗi quân nhân mỗi ngày.
Mặc dù rất
muốn đòi hỏi phải giảm đáng kể những chi phí này — vốn đã được áp dụng trong
khoảng hai năm — tôi cho rằng nếu thực hiện việc giảm chi phí vào lúc này, nó sẽ
gây ra tổn hại không thể khắc phục đối với tinh thần quân đội trong giai đoạn
nguy cấp từ nay đến ngày 1 tháng 7 năm 1956.
Giải pháp
trong những năm sau phải nằm ở việc khôi phục chế độ nghĩa vụ quân sự toàn quốc.
Bằng cách này, một lực lượng nòng cốt gồm quân nhân chuyên nghiệp có thể được
giữ lại với mức lương cao hiện tại, trong khi tiền lương của binh sĩ thi hành
nghĩa vụ quân sự có thể được giảm mạnh.
5.
Không có lực
lượng dân quân nào được tính vào cơ cấu lực lượng của tài khóa 1956. Tôi cho rằng
vai trò của những lực lượng về thực chất là bảo an địa phương này nên được đảm
nhiệm bởi những người tình nguyện tại chỗ và lực lượng cảnh sát.
Phần thứ
ba
Phát
triển và huấn luyện các lực lượng vũ trang Việt Nam tự chủ
1.
Hai điều
kiện cần thiết để phát triển có hiệu quả cơ cấu lực lượng Việt Nam được trình
bày trong Phần thứ hai là:
(a) Quyền tự chủ về chỉ huy; nghĩa là
các lực lượng Việt Nam phải thực sự do người Việt Nam chỉ huy; và
(b) Hoa Kỳ chịu trách nhiệm về việc tổ
chức và huấn luyện. Phía Pháp phải hợp tác đầy đủ trong khi Hoa Kỳ thực hiện
nhiệm vụ độc lập này.
2.
Nhằm đạt mục
đích đó, tôi đã cho soạn thảo một biên bản thỏa thuận, và hôm nay tôi đã
trình bản dự thảo ấy cho Tướng Ely — xem Phần thứ tư để biết phần tóm lược cuộc
gặp.
Biên bản
quy định rằng:
(a) Cơ cấu lực lượng được trình bày
trong Phần thứ hai nói trên sẽ được hoàn thành trước ngày 1 tháng 7 năm 1955;
(b) Pháp sẽ trao đầy đủ quyền tự chủ
cho các lực lượng vũ trang Việt Nam chậm nhất vào ngày 1 tháng 7 năm 1955;
(c) Ngày 1 tháng 1 năm 1955,
Hoa Kỳ sẽ đảm nhận trách nhiệm cố vấn cho Chính phủ Việt Nam trong việc tổ chức
và huấn luyện các lực lượng vũ trang của mình. Việc thi hành trách nhiệm này sẽ
được giao cho Trưởng Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ (MAAG);
(d) Việc sử dụng nhân viên huấn luyện
người Pháp là điều cần thiết và đáng mong muốn; những nhân viên ấy sẽ làm việc
dưới sự điều động của MAAG;
(e) Vì Tướng Ely chịu trách nhiệm tổng
quát về an ninh quân sự của Việt Nam, ông phải được bảo đảm rằng việc tổ chức
và huấn luyện sẽ phù hợp với một quan niệm hành quân đã được thỏa thuận và được
ông chấp thuận;
(f) Trong giai đoạn đầu, vẫn sẽ phải dựa
một phần vào các nhân viên huấn luyện và cố vấn người Pháp; nhưng lực lượng này
sẽ được rút dần khi khả năng của MAAG Hoa Kỳ gia tăng;
(g) Những sự sắp xếp nói trên phải được
Chính phủ Việt Nam chấp thuận.
3.
Tướng Ely
nói với tôi rằng ông đồng ý với quan niệm được nêu trong biên bản, nhưng muốn
nghiên cứu thêm. Tôi sẽ gặp lại ông vào sáng mai.
Sau đó
trong ngày, một phụ tá gọi điện cho biết Tướng Ely đã xem bản dịch của biên bản,
muốn thảo luận chi tiết và yêu cầu không thông báo cho Washington rằng ông đã
chấp thuận văn kiện này.
Phần thứ
tư
Phản ứng
của Tướng Ely
1.
Ngày 15
tháng 11, tôi gặp Tướng Ely và thảo luận kỹ lưỡng về những quan niệm được trình
bày trong Phần thứ nhất, cũng như các chi tiết của những chương trình được
trình bày trong Phần thứ hai và Phần thứ ba.
Phản ứng của
Tướng Ely như sau:
(a) Ông tuyên bố sẵn sàng đồng ý với kế
hoạch cơ cấu lực lượng của chúng ta. Thật ra, ông cho rằng lực lượng 200.000
quân do phía Việt Nam đề nghị là quá đông. Tuy nhiên, ông nói rằng sẽ khó
thuyết phục phía Việt Nam chấp nhận kế hoạch của chúng ta.
(b) Ý định của Pháp từ trước đến nay vẫn
là giảm dần Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC) khi các lực lượng Việt Nam
được xây dựng và phát triển. Tuy nhiên, vì kế hoạch của chúng ta quy định quân
số của các lực lượng Việt Nam thấp hơn, nên kế hoạch rút dần Quân đoàn Viễn
chinh Pháp sẽ phải được nghiên cứu lại.
(c) Ông đồng ý với quan niệm rằng các
lực lượng Việt Nam phải có khả năng chịu đựng đợt tiến công đầu tiên từ bên
ngoài, trong khi các quốc gia thuộc Hiệp ước Manila chuẩn bị hành động. Tuy
nhiên, những sự sắp xếp phòng thủ cụ thể theo quan niệm này sẽ phải được thảo
luận thêm.
(d) Ông tán thành quan niệm tổ chức
các sư đoàn nhẹ như được nêu trong đề nghị của chúng ta.
(e) Để trả lời câu hỏi của tôi rằng liệu
ông có đồng ý tăng quân số quân nhân Hoa Kỳ vượt quá giới hạn 342 người dành
cho MAAG — một giới hạn xuất phát từ cách giải thích quá nghiêm ngặt Hiệp định
Genève — ông đồng ý rằng việc này có thể thực hiện được, nhưng cảnh báo về phản
ứng của Việt Minh. Ông nói rằng việc tăng quân số ấy phải được tiến hành từ từ
và kín đáo.
(f) Ông đặc biệt đồng ý rằng Hoa Kỳ
nên tiếp nhận toàn bộ trách nhiệm về việc tổ chức và huấn luyện các lực lượng
Việt Nam; đồng thời các huấn luyện viên và cố vấn Pháp sẽ đặt dưới sự điều động
của MAAG. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì liên lạc chặt chẽ
giữa Trưởng MAAG và chính ông. Tôi đồng ý với điều này.
2.
Tôi dự định
sẽ tiếp tục làm rõ lập trường của Tướng Ely trong cuộc gặp giữa chúng tôi vào
ngày 16 tháng 11.
3.
Vào cuối
ngày hôm nay, tôi đã thảo luận với ông Diệm về những quan niệm và chương trình
tổng quát được trình bày trong các Phần thứ nhất, thứ hai và thứ ba nói trên.
Phản ứng
ban đầu của ông nhìn chung là thuận lợi, nhưng tôi không chắc rằng ông đã hiểu
hết mọi hệ quả của nội dung được trình bày.
Phần thứ
năm
Hoa Kỳ
viện trợ cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp
1.
Tham chiếu
Điện văn Bộ Ngoại giao số 1875.[4] Như đã trình bày trong Phần thứ nhất của điện
văn này, nhìn chung tôi đồng ý với quan điểm của Heath trong Điện văn Đại sứ
quán số 1761:[5] Hoa Kỳ nên tiếp tục cung cấp một phần viện trợ tài chính cho
Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC) trong năm 1955.
Chúng tôi
tin rằng phía Pháp đang có ấn tượng rằng họ sẽ nhận được sự viện trợ ấy. Nếu
chúng ta không cung cấp, chúng ta sẽ khó đạt được sự hợp tác đầy đủ của Pháp—điều
mà chúng tôi xem là thiết yếu đối với sự thành công của các chương trình viện
trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ.
2.
Tuy nhiên,
hiện nay tôi chưa sẵn sàng đề nghị chính xác quân số mà Quân đoàn Viễn chinh
Pháp phải giảm xuống trước ngày 1 tháng 1 năm 1956, cũng như số tiền
chính xác mà Hoa Kỳ nên đóng góp để yểm trợ Quân đoàn này trong năm dương lịch
1955.
Dù vậy,
tôi đề nghị số tiền ấy không nên thấp hơn 100 triệu đô-la.
3.
Sáng nay,
tôi nói với Tướng Ely rằng tôi tin ít nhất một phần Quân đoàn Viễn chinh Pháp
nên được duy trì tại đây cho đến thời điểm dự trù tổ chức cuộc tuyển cử tại Việt
Nam. Tôi cũng sẵn sàng kiến nghị với chính phủ của mình rằng Hoa Kỳ nên tiếp tục
đóng góp tài chính để yểm trợ Quân đoàn trong thời gian ấy, nhưng tôi không nêu
con số nào.
Tuy nhiên,
tôi tin chắc rằng số tiền dành cho mục đích này sẽ thấp hơn trước đây.
Phần thứ
sáu
Những vấn
đề thảo luận với Mendès-France
1.
Tham chiếu
Điện văn Bộ Ngoại giao số 1939.[6] Tôi cho rằng nếu có đủ thời gian và nếu
Mendès-France có các chuyên viên thích hợp tháp tùng, thì việc thảo luận với
ông về các Phần từ thứ hai đến thứ năm của điện văn này sẽ có ích.
Theo tôi,
thứ tự quan trọng của các vấn đề cần thảo luận là:
(a) Sự viện trợ của Hoa Kỳ dành cho
Quân đoàn Viễn chinh Pháp;
(b) Quan niệm của Pháp về nhiệm vụ của
Quân đoàn Viễn chinh Pháp trong giai đoạn hiện nay;
(c) Những đề nghị của chúng ta về việc
tổ chức và huấn luyện các lực lượng Việt Nam tự chủ;
(d) Những kiến nghị của chúng ta về
quân số của các lực lượng vũ trang Việt Nam, cùng với quan niệm chiến lược làm
cơ sở cho việc giảm quân số của Quân đội Quốc gia và Quân đoàn Viễn chinh Pháp
— tức là dựa vào Hiệp ước Manila;
(e) Việc Hoa Kỳ thu hồi số trang bị dư
thừa thuộc Chương trình Viện trợ Phòng thủ Hỗ tương (MDAP) — Điện văn Đại
sứ quán số 1793, ngày 10 tháng 11.[7]
2.
Mặc dù tôi
tin rằng vấn đề (a) nên được giải quyết theo cách cho phép duy trì một
phần Quân đoàn Viễn chinh Pháp tại Việt Nam—như đã thảo luận trong Phần thứ nhất
và Phần thứ năm của điện văn này—nhưng tại đây không có đầy đủ mọi yếu tố cần
thiết để giải quyết vấn đề.
3.
Về thái độ
của Pháp đối với Chính phủ Diệm, tôi cho rằng không nên nói điều gì có thể khiến
người ta hiểu rằng sự ủng hộ của chúng ta dành cho Thủ tướng đang dao động. Tuy
nhiên, chúng ta nên để Mendès-France chủ động nêu vấn đề này nếu ông muốn.
Kidder
Chú
thích của FRUS
1. Đại sứ Donald R. Heath rời Việt
Nam ngày 14 tháng 11. Randolph A. Kidder, Tham tán Đại sứ quán, giữ chức
Đại biện lâm thời trong khi chờ bổ nhiệm một Đại sứ mới. Điện văn này được
truyền đi thành sáu phần. ↩
2. Xem chú thích số 3, trang
2240. ↩
3. Xem thư của Tổng thống gửi Tướng
Collins ngày 3 tháng 11, trang
2205. ↩
4. Điện văn này cũng được gửi đến
Paris với số 1692, ngày 5 tháng 11, trang
2215. ↩
5. Đề ngày 8 tháng 11, trang
2224. ↩
6. Điện văn số 1939 gửi Sài Gòn ngày 11
tháng 11, yêu cầu Tướng Collins trình bày quan điểm về tình hình Việt Nam để
chuẩn bị cho các cuộc hội đàm với Thủ tướng Mendès-France, không được in trong
tập này. (120.251G/11–1154) ↩
7. Điện văn số 1793 từ Sài Gòn, ngày 10
tháng 11, không được in trong tập này. Điện văn chứa dự thảo biên bản thỏa
thuận do Tướng Collins đề nghị về việc Hoa Kỳ thu hồi những trang bị thuộc
Chương trình Viện trợ Phòng thủ Hỗ tương (MDAP) mà phía Pháp không còn cần
để tiến hành chiến tranh.
Theo dự thảo
công hàm, Tướng O’Daniel và Tướng Ely sẽ tham khảo ý kiến với nhau trong thời
gian sớm nhất về cách xử lý số trang bị này. (751G.5 MSP/11–1054) ↩
HẾT phần dịch từ điện văn.
Phần tóm lược.
Về lai lịch:
Đây là Điện văn số 1830, đề ngày 15-11-1954, lúc 10 giờ tối, tại Sài Gòn; được xếp loại Tối mật – Ưu tiên.
Nội dung do Đại tướng J. Lawton Collins soạn, nhưng Đại biện lâm thời Randolph A. Kidder thay mặt Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam gửi về Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Điện văn cũng được chuyển ưu tiên đến Paris với số 602.
Kidder đứng tên vì Đại sứ Donald R. Heath đã rời Việt Nam ngày 14-11-1954, trong khi chưa có Đại sứ mới. Điện văn gồm sáu phần, ghi lại những nhận định và kiến nghị tổng quát đầu tiên của Collins sau khoảng một tuần có mặt tại Sài Gòn: đánh giá chính quyền Ngô Đình Diệm, đề nghị tổ chức lại Quân đội Quốc gia Việt Nam, trao quyền tự chủ chỉ huy cho người Việt, chuyển trách nhiệm tổ chức và huấn luyện sang Hoa Kỳ, tiếp tục hỗ trợ một phần Quân đoàn Viễn chinh Pháp, và chuẩn bị nội dung thảo luận với Thủ tướng Pháp Mendès-France.
Đây là một trong những báo cáo tổng hợp đầu tiên của Collins trong nhiệm vụ Đặc sứ Hoa Kỳ tại Quốc gia Việt Nam.
Về nội dung
Tóm lược nội dung Điện văn số 1830 ngày 15-11-1954
Sau khoảng một tuần có mặt tại Sài Gòn, Collins trình bày những nhận định và đề nghị đầu tiên:
Ông chưa tin chắc Ngô Đình Diệm đủ khả năng điều hành đất nước trong giai đoạn nguy cấp; Nội các cần sớm được củng cố, nhất là Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ.
Pháp vẫn giữ ảnh hưởng lớn về chính trị, kinh tế và quân sự; chưa nên rút Quân đoàn Viễn chinh Pháp quá sớm.
Collins đề nghị xây dựng lực lượng vũ trang Quốc gia Việt Nam khoảng 83.685 quân nhân, nòng cốt gồm ba sư đoàn địa phương và ba sư đoàn dã chiến, chủ yếu giữ an ninh nội bộ nhưng vẫn đủ sức chống đỡ bước đầu nếu bị tấn công.
Quân đội hiện có khoảng 170.000 người phải giảm dần bằng giải ngũ có chọn lọc; các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo và đoàn thể khác sẽ được sáp nhập vào Quân đội Quốc gia.
Hoa Kỳ sẽ đảm nhận trách nhiệm tổ chức và huấn luyện; người Việt Nam trực tiếp chỉ huy quân đội; các cố vấn và huấn luyện viên Pháp đặt dưới sự điều động của MAAG.
Tướng Ely nhìn chung đồng ý với kế hoạch nhưng muốn nghiên cứu thêm; ông Diệm phản ứng ban đầu thuận lợi, song Collins chưa chắc ông đã hiểu hết các hệ quả.
Collins đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ ít nhất 100 triệu đô-la cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp trong năm 1955 và duy trì một phần quân Pháp tại Việt Nam đến thời điểm dự trù tuyển cử.
Khi thảo luận với Thủ tướng Pháp Mendès-France, Hoa Kỳ không nên để lộ dấu hiệu dao động trong việc ủng hộ Chính phủ Diệm.
(Hết phần tóm lược)
GPT DỊCH phụ lục: Thư Tổng Thống Mỹ gởi đến ông Diệm ngày 23-10-1954.
Link Anh Văn:
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1271?utm_source=chatgpt.com
GPT DỊCH
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 2
Hồ sơ thư từ của Tổng thống, lô 66 D 204
Tổng thống Eisenhower gửi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam (Ngô Đình Diệm)
Washington, [không đề ngày]
Kính thưa Ngài Chủ tịch,
Tôi đã theo dõi với sự quan tâm sâu sắc diễn tiến tình hình tại Việt Nam, đặc biệt kể từ khi Hội nghị Genève kết thúc. Những hệ quả của hiệp định liên quan đến Việt Nam đã gây nên mối quan ngại nghiêm trọng về tương lai của một đất nước tạm thời bị chia cắt bởi một sự phân chia quân sự giả tạo, bị suy yếu vì một cuộc chiến tranh lâu dài và kiệt quệ, đồng thời phải đối diện với kẻ thù từ bên ngoài cùng những phần tử cộng tác phá hoại của họ ở bên trong.
[Trang 2167]
Những yêu cầu viện trợ gần đây của Ngài nhằm hỗ trợ công cuộc hết sức khó khăn là di chuyển hàng trăm nghìn công dân Việt Nam trung thành ra khỏi những khu vực đang chuyển sang nằm dưới một chính quyền trên thực tế và một hệ tư tưởng chính trị mà họ căm ghét, hiện đang được đáp ứng. Tôi vui mừng vì Hoa Kỳ có thể giúp đỡ trong nỗ lực nhân đạo này.
Chúng tôi đã tìm kiếm những phương cách để làm cho viện trợ của chúng tôi dành cho Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn và đóng góp nhiều hơn vào sự thịnh vượng và ổn định của Chính phủ Việt Nam.
Vì vậy, tôi đang chỉ thị cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng Ngài—với tư cách là người đứng đầu Chính phủ—xem xét cách thức mà một chương trình viện trợ hợp lý của Hoa Kỳ, được trao trực tiếp cho Chính phủ của Ngài, có thể giúp đỡ Việt Nam trong giờ phút thử thách hiện nay; với điều kiện Chính phủ của Ngài sẵn sàng đưa ra những bảo đảm về các tiêu chuẩn thực hiện mà Chính phủ có thể duy trì nếu nhận được sự viện trợ ấy.
Mục đích của đề nghị này là giúp Chính phủ Việt Nam xây dựng và duy trì một quốc gia vững mạnh, có khả năng tồn tại, đủ sức chống lại những âm mưu lật đổ hoặc hành động xâm lược bằng quân sự.
Chính phủ Hoa Kỳ mong đợi rằng, để đáp lại sự viện trợ này, Chính phủ Việt Nam sẽ chứng tỏ năng lực hành động bằng cách tiến hành những cải cách cần thiết. Chính phủ Hoa Kỳ hy vọng rằng sự viện trợ ấy, kết hợp với những nỗ lực không ngừng của chính Ngài, sẽ đóng góp hữu hiệu vào việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập với một chính phủ vững mạnh.
Tôi hy vọng rằng một chính phủ như thế sẽ đáp ứng đầy đủ những nguyện vọng dân tộc của nhân dân, có mục tiêu sáng suốt và hoạt động hữu hiệu, để được kính trọng cả trong nước lẫn ngoài nước; đồng thời làm nản lòng bất cứ ai muốn áp đặt một hệ tư tưởng ngoại lai lên nhân dân tự do của Ngài.
Trân trọng,
Dwight D. Eisenhower
Chú thích của FRUS
1. Bức thư này do Bộ Ngoại giao soạn thảo và được Quyền Ngoại trưởng Smith chuyển đến Tổng thống ngày 23-9-1954; xem bản ghi nhớ chuyển trình tại trang 2053.
Sau khi được Tổng thống ký, thư được chuyển đến Sài Gòn trong Điện văn số 1336 ngày 1-10-1954, đồng thời gửi đến Paris với số 1205. (751G.00/10–154)
Trong Điện văn số 1204 gửi Paris—đồng thời mang số 1335 gửi Sài Gòn—cùng ngày, Đại sứ Heath, khi ấy đang ở Pháp để gặp Bảo Đại, được phép sử dụng thư của Tổng thống theo bất cứ cách nào mà ông xét thấy có lợi về mặt sách lược. (751G.00/9–3054)
Trong Điện văn số 1678 gửi Sài Gòn ngày 22-10-1954—Tedul 14 gửi Paris—Đại sứ Heath được chỉ thị trao bức thư; về Tedul 14, xem trang 2159.
Trong Điện văn số 1559 từ Sài Gòn ngày 24-10-1954, Heath báo cáo rằng bức thư đã được trao cho ông Diệm lúc 7 giờ 30 tối ngày 23-10-1954, giờ địa phương. (751G.13/10–2454)
Nội dung bức thư được Tòa Bạch Ốc công bố ngày 25-10-1954.
Hết phần dịch nội dung thư.
Tóm lược thư của Tổng thống Eisenhower gửi ông Ngô Đình Diệm
Ngày 23-10-1954, Tổng thống Eisenhower chính thức đề nghị viện trợ trực tiếp cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam, nhằm giúp ổn định đất nước, xây dựng một chính quyền vững mạnh và đủ khả năng chống lại hoạt động lật đổ hoặc xâm lược.
Đổi lại, Hoa Kỳ yêu cầu Chính phủ Ngô Đình Diệm chứng tỏ năng lực điều hành và tiến hành những cải cách cần thiết. Hoa Kỳ cũng xác nhận đang hỗ trợ cuộc di cư của hàng trăm nghìn người Việt từ miền Bắc vào miền Nam.