Bài 3.
Lưu ý: Trong các văn kiện này, danh xưng “Việt Nam” hoặc “Việt Nam Tự do” chỉ Quốc Gia Việt Nam, do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu, Ngô Đình Diệm là Thủ tướng. Khi Collins được cử đến Sài Gòn tháng 11-1954 và viết báo cáo ngày 20-01-1955, Việt Nam Cộng Hòa chưa thành lập. Mãi đến ngày 26-10-1955, Ngô Đình Diệm mới xóa bỏ Quốc Gia Việt Nam và tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng Hòa và Ông Diệm là Tổng thống. (Xin chú ý 02 phụ lục).
&&&
NHIỆM VỤ CỦA ĐẠI TƯỚNG J. LAWTON COLLINS KHI VIẾT BÁO CÁO NGÀY 20-01-1955
Ngày 03-11-1954, Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower chính thức cử Đại tướng J. Lawton Collins làm Đại diện đặc biệt của Hoa Kỳ tại Việt Nam, với hàm cá nhân Đại sứ.
Đây là một nhiệm vụ đặc biệt, được thiết lập trong lúc Hoa Kỳ cho rằng nền độc lập và an ninh của “Việt Nam Tự do” đang đứng trước tình thế nguy cấp. Collins được cử đến Sài Gòn trong một thời hạn giới hạn để phối hợp và chỉ đạo các hoạt động của Hoa Kỳ tại Việt Nam nhằm thực hiện những mục tiêu chính sách của Hoa Kỳ.
Phụ lục 1: Nguồn: Thư Tổng thống Eisenhower gửi Đại tướng Collins ngày 03-11-1954
1/- Vị trí của Collins tại Việt Nam
Collins không thay thế Đại sứ Donald R. Heath theo thủ tục ngoại giao thông thường. Sau khi Heath mãn nhiệm, Randolph A. Kidder điều hành Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn với chức vụ Đại biện lâm thời; còn Collins giữ cương vị riêng là Đại diện đặc biệt của Tổng thống, mang hàm cá nhân Đại sứ.
Do đó, Collins là người đại diện trực tiếp cho Tổng thống Eisenhower trong việc phối hợp và chỉ đạo chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông không chỉ làm công việc ngoại giao mà còn phụ trách những vấn đề liên quan đến chính trị, quân sự, kinh tế và viện trợ.
Ban đầu, nhiệm vụ của Collins được dự tính kéo dài khoảng 60 đến 90 ngày. Ông được tạm thời miễn nhiệm vụ đại diện Hoa Kỳ tại Ủy ban Quân sự NATO để sang Việt Nam. Trên thực tế, ông tiếp tục giữ chức Đại diện đặc biệt tại Việt Nam đến tháng 5-1955.
Phụ lục 2. Nguồn: Điện văn của Ngoại trưởng Hoa Kỳ gửi Đại sứ quán tại Pháp ngày 01-11-1954
2/- Quyền hạn đặc biệt của Collins
Trong thư bổ nhiệm ngày 03-11-1954, Tổng thống Eisenhower trao cho Collins “thẩm quyền rộng lớn” để:
chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam;
sử dụng các nguồn lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam;
kiểm soát và phối hợp hoạt động của các cơ quan ấy;
thay mặt Tổng thống và Chính phủ Hoa Kỳ làm việc với nhà chức trách Việt Nam và Pháp;
trình bày thẳng thắn và đầy đủ quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ.
Tổng thống cũng chỉ thị cho tất cả các cơ quan thuộc Chính phủ Hoa Kỳ phải trợ giúp Collins khi cần thiết.
Như vậy, khi viết báo cáo ngày 20-01-1955, Collins không phải là một quan sát viên hoặc một viên chức chỉ làm nhiệm vụ thu thập tin tức. Ông là người được trao quyền phối hợp và điều động gần như toàn bộ các phương tiện của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam để thực hiện một chương trình hành động đã được Tổng thống giao phó.
3/- Những mục tiêu chính sách Collins phải thực hiện
Tổng thống Eisenhower xác định bốn mục tiêu căn bản của Hoa Kỳ tại Việt Nam:
Thứ nhất: Duy trì và hậu thuẫn một chính phủ Việt Nam độc lập, thân thiện với Hoa Kỳ và không cộng sản; giúp chính phủ ấy làm suy giảm rồi tiến tới loại trừ hoạt động lật đổ cùng ảnh hưởng của cộng sản.
Thứ hai: Giúp Chính phủ Việt Nam xây dựng và duy trì các lực lượng cần thiết để bảo đảm an ninh nội bộ; đồng thời phát triển những điều kiện kinh tế giúp “Việt Nam Tự do” tồn tại và vững mạnh.
Thứ ba: Cung cấp viện trợ của Hoa Kỳ trực tiếp cho Chính phủ Việt Nam; phối hợp thông tin và trao đổi quan điểm về chương trình viện trợ với nhà chức trách Việt Nam và Pháp.
Thứ tư: Khuyến khích “Việt Nam Tự do” mở rộng quan hệ với các quốc gia láng giềng không cộng sản và vận động sự hậu thuẫn của thế giới tự do.
Bốn mục tiêu trên cho thấy nhiệm vụ của Collins bao trùm cả chính trị, quân sự, kinh tế, viện trợ và ngoại giao.
4/- Nhiệm vụ trực tiếp: ổn định và củng cố Chính phủ Ngô Đình Diệm
Trong thư giao nhiệm vụ, Tổng thống Eisenhower xác định yêu cầu trước mắt và cấp bách là:
Giúp ổn định và củng cố chính phủ hợp pháp của Việt Nam dưới quyền Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
Vì vậy, nhiệm vụ chính của Collins là phối hợp và chỉ đạo một chương trình hậu thuẫn Chính phủ Diệm, nhằm giúp chính phủ này:
củng cố an ninh nội bộ và sự ổn định về chính trị, kinh tế;
thiết lập và duy trì quyền kiểm soát trên toàn lãnh thổ;
chống lại một cách hữu hiệu sự xâm nhập và những hoạt động bán quân sự của Việt Minh ở phía nam giới tuyến quân sự.
Collins đồng thời phải tìm kiếm sự hợp tác của nhà chức trách Pháp và thi hành nhiệm vụ phù hợp với lập trường của Hoa Kỳ đối với Hiệp định Genève về Đông Dương.
Điểm này rất quan trọng: Collins đến Việt Nam với một nhiệm vụ đã được xác định trước là ổn định và củng cố Chính phủ Ngô Đình Diệm. Vì thế, khi ông đánh giá những lực lượng hoặc nhân vật chính trị khác, những nhận định ấy không tách rời mục tiêu trung tâm nói trên.
5/- Trách nhiệm báo cáo và đề nghị chính sách
Collins có trách nhiệm thường xuyên thông báo đầy đủ cho Chính phủ Hoa Kỳ về tiến trình thi hành nhiệm vụ:
báo cáo qua Ngoại trưởng Hoa Kỳ về tình hình chung;
báo cáo qua Bộ trưởng Quốc phòng khi vấn đề thuộc lĩnh vực quân sự;
đưa ra những đề nghị về chương trình hành động tiếp theo.
Báo cáo tối mật ngày 20-01-1955 chính là một phần trong trách nhiệm đó. Báo cáo được gửi cho Ngoại trưởng, sau đó trình Hội đồng An ninh Quốc gia ngày 24-01-1955 và trở thành trọng tâm của cuộc tái thẩm định chính sách Đông Dương tại Washington, dẫn đến cuộc thảo luận của Hội đồng An ninh Quốc gia ngày 27-01-1955.
Nhận định về vị trí của người viết báo cáo
Từ văn thư bổ nhiệm của Tổng thống Eisenhower, có thể xác định rằng khi viết Báo cáo ngày 20-01-1955, Collins giữ đồng thời ba vị trí:
người trực tiếp đại diện Tổng thống Hoa Kỳ tại Việt Nam;
người được giao chỉ đạo và phối hợp các hoạt động cùng nguồn lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam;
người có nhiệm vụ xây dựng và thi hành chương trình ổn định, củng cố Chính phủ Ngô Đình Diệm.
Do đó, Báo cáo Collins không đơn thuần là bản nhận xét riêng của một vị tướng sau hai tháng quan sát. Đây là báo cáo chính sách của người đang trực tiếp thi hành một sứ mạng đặc biệt do Tổng thống Hoa Kỳ giao phó.
Dấu TỐI MẬT và phạm vi phổ biến giới hạn theo nguyên tắc “cần được biết” càng cho thấy bản báo cáo được viết để phục vụ việc quyết định chính sách ở cấp cao nhất, không nhằm giải thích hay tuyên truyền trước công chúng.
Tuy nhiên, chính nhiệm vụ củng cố Chính phủ Diệm cũng là điều người nghiên cứu phải ghi nhớ khi xem xét các nhận định của Collins về Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và những lực lượng chính trị khác tại Quốc gia Việt Nam. Báo cáo có giá trị đặc biệt để biết Hoa Kỳ thật sự nhận định và dự định làm gì, nhưng không vì thế mà mọi đánh giá của Collins đương nhiên trở thành kết luận khách quan cuối cùng về các lực lượng Việt Nam.
HẾT (phần tìm hiểu của BBT).
Xin mời xem.
Các phụ lục
PHỤ LỤC 1.
Nguyên văn.
Link https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1298?utm_source=chatgpt.com
Foreign Relations of the United States, 1952–1954,
Indochina, Volume XIII, Part 2
Eisenhower Library, Eisenhower papers, Whitman file
The President to General J. Lawton
Collins1
top secret
Washington, November 3, 1954.
Dear General Collins: The threat to the independence
and security of Free Viet-Nam has reached such a critical stage that emergency
measures are required to assist Free Viet-Nam to maintain itself, and [Page 2206]to promote United States policies regarding
Viet-Nam. Accordingly, I am designating you as Special United States
Representative with personal rank of Ambassador to go to Saigon for a limited
period to coordinate and direct United States activities in Viet-Nam in support
of United States policy objectives. I am hereby instructing you to undertake
this mission with broad authority to direct, utilize and control all the
agencies and resources of the United States Government in Viet-Nam.
Your mission is undertaken on behalf of the United States
Government and all its agencies will assist you as required in this difficult
and essential task. I have complete confidence that your wide experience will
enable you decisively to assist in dealing with the urgent problems which
confront not only the Vietnamese Government but the free world in Viet-Nam. In
your conversations and dealings with local French and Vietnamese authorities,
you are authorized to speak with complete frankness and full authority on
behalf of myself and the Government of the United States. You should keep the
United States Government fully and currently informed of the progress of your
mission through the Secretary of State, and the Secretary of Defense where
appropriate regarding military matters.
For your guidance, the basic policies of the United States
with respect to Viet-Nam are as follows:
1.
To maintain and support a friendly and independent
non-Communist government in Viet-Nam and to assist it in diminishing and
ultimately eradicating Communist subversion and influence.
2.
To assist the Government of Viet-Nam to develop and maintain
forces necessary for internal security and to foster economic conditions which
will strengthen and promote the survival of a Free Viet-Nam.
3.
To provide United States assistance directly to the
Government of Viet-Nam and to coordinate information and exchange of views on
such assistance with Vietnamese and French authorities.
4.
To encourage expanding relationships between Free Viet-Nam
and its non-Communist neighbors, and support for Free Viet-Nam by the free
world.
The immediate and urgent requirement in carrying out these
policies and in meeting the deteriorating situation in Viet-Nam is to assist in
stabilizing and strengthening the legal government of Viet-Nam under the
premiership of Ngo Dinh Diem. Accordingly, the principal task of your
mission is to coordinate and direct a program in support of that government to
enable it to: (a) promote internal security and political and economic
stability, (b) establish and maintain control throughout the territory,
and (c) effectively counteract Viet Minh infiltration and paramilitary
activities south of the military demarcation line. As an initial framework for
a concrete program of action you should (a) use the joint instructions
which the Departments of State and [Page 2207]Defense transmitted to the American Embassy in
Saigon on October 222 and
(b) take into consideration the latter’s reply of October 27, 1954.3
As this immediate program progresses, I will expect to
receive your recommendations.
You will in these matters seek, and I hope obtain, the
cooperation of the French authorities. Their cooperation will greatly
facilitate the discharge of your mission.
You are of course advised of the United States position and
policy with respect to the agreements of the Geneva Conference on Indochina and
to the United States Declaration made there and in these matters you should
conform to such position and policy.
I appreciate your undertaking this difficult and delicate
mission which is of such great importance to the United States. This assignment
and these instructions are convincing evidence of the firm intention of the
Government of the United States to help the Vietnamese people preserve and
promote their liberty and welfare.
With warm regard,
Sincerely,
[
Dwight D. Eisenhower
]
- This
letter was prepared in the Department of State. A draft was transmitted to
Secretary Dulles by Assistant Secretary Robertson by
memorandum of Nov. 2, for approval by the President. (120.251G/11–254) In
a memorandum for the President, Nov. 3, Dulles stated that the
letter had been approved by the Defense Department and FOA and
was satisfactory to General Collins. (120.251G/11–354)
President Eisenhower approved the letter the same day. (See
memorandum of conversation, supra)
The White House announced the appointment of General Collins by
press release of Nov. 3. For text, see Department of State Bulletin,
Nov. 22, 1954, pp. 777–778.↩
GPT DỊCH
PHỤ LỤC 1
Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 2
Thư viện Eisenhower, Hồ sơ Eisenhower, Hồ sơ Whitman
Tổng thống gửi Đại tướng J. Lawton Collins¹
TỐI MẬT
Washington, ngày 03 tháng 11 năm 1954.
Kính gửi Đại tướng Collins,
Mối đe dọa đối với nền độc lập và an ninh của Việt Nam Tự do đã đạt đến mức nghiêm trọng đến nỗi cần phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp nhằm giúp Việt Nam Tự do tự đứng vững, đồng thời xúc tiến các chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.
Vì vậy, tôi chỉ định ông làm Đại diện đặc biệt của Hoa Kỳ, với hàm cá nhân Đại sứ, đến Sài Gòn trong một thời hạn nhất định để phối hợp và chỉ đạo các hoạt động của Hoa Kỳ tại Việt Nam nhằm hỗ trợ những mục tiêu chính sách của Hoa Kỳ. Nay tôi chỉ thị ông thực hiện sứ mạng này với thẩm quyền rộng lớn để chỉ đạo, sử dụng và kiểm soát tất cả các cơ quan cùng nguồn lực của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Sứ mạng của ông được thực hiện nhân danh Chính phủ Hoa Kỳ và tất cả các cơ quan của Chính phủ sẽ trợ giúp ông theo yêu cầu trong nhiệm vụ khó khăn và thiết yếu này. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng kinh nghiệm sâu rộng của ông sẽ giúp ông đóng góp một cách quyết định vào việc giải quyết những vấn đề khẩn cấp đang đặt ra không chỉ đối với Chính phủ Việt Nam mà còn đối với cả thế giới tự do tại Việt Nam.
Trong những cuộc trao đổi và làm việc với nhà chức trách Pháp và Việt Nam tại địa phương, ông được phép phát biểu với tất cả sự thẳng thắn và đầy đủ thẩm quyền, nhân danh cá nhân tôi và Chính phủ Hoa Kỳ. Ông phải thông báo đầy đủ và kịp thời cho Chính phủ Hoa Kỳ về tiến trình thực hiện sứ mạng của mình, thông qua Ngoại trưởng; và đối với những vấn đề quân sự thích hợp, thông qua Bộ trưởng Quốc phòng.
Để ông làm căn cứ thực hiện nhiệm vụ, những chính sách căn bản của Hoa Kỳ đối với Việt Nam được xác định như sau:
1.
Duy trì và hậu thuẫn một chính phủ thân thiện, độc lập và không cộng sản tại Việt Nam; đồng thời giúp chính phủ ấy làm suy giảm và cuối cùng loại trừ hoạt động lật đổ cùng ảnh hưởng của cộng sản.
2.
Giúp Chính phủ Việt Nam xây dựng và duy trì những lực lượng cần thiết cho an ninh nội bộ; đồng thời thúc đẩy những điều kiện kinh tế nhằm củng cố và bảo đảm sự tồn tại của một Việt Nam Tự do.
3.
Cung cấp viện trợ của Hoa Kỳ trực tiếp cho Chính phủ Việt Nam; đồng thời phối hợp thông tin và trao đổi quan điểm về sự viện trợ này với nhà chức trách Việt Nam và Pháp.
4.
Khuyến khích Việt Nam Tự do mở rộng quan hệ với các quốc gia láng giềng không cộng sản, đồng thời vận động sự hậu thuẫn của thế giới tự do dành cho Việt Nam Tự do.
Yêu cầu trực tiếp và cấp bách trong việc thực hiện những chính sách này và đối phó với tình hình đang xấu đi tại Việt Nam là giúp ổn định và củng cố Chính phủ hợp pháp của Việt Nam dưới quyền Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
Vì vậy, nhiệm vụ chính trong sứ mạng của ông là phối hợp và chỉ đạo một chương trình hậu thuẫn chính phủ ấy, nhằm giúp chính phủ có khả năng:
a) tăng cường an ninh nội bộ và sự ổn định về chính trị, kinh tế;
b) thiết lập và duy trì quyền kiểm soát trên toàn lãnh thổ;
c) chống lại một cách hữu hiệu sự xâm nhập của Việt Minh và những hoạt động bán quân sự ở phía nam giới tuyến quân sự.
Làm khuôn khổ ban đầu cho một chương trình hành động cụ thể, ông phải:
a) sử dụng bản chỉ thị chung mà Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng đã gửi cho Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày 22-10;²
b) xem xét bản phúc đáp ngày 27-10-1954 của Đại sứ quán đối với chỉ thị nói trên.³
Khi chương trình cấp thời này được triển khai, tôi mong nhận được những đề nghị của ông.
Trong những vấn đề này, ông sẽ tìm kiếm — và tôi hy vọng sẽ nhận được — sự hợp tác của nhà chức trách Pháp. Sự hợp tác của họ sẽ tạo điều kiện thuận lợi đáng kể cho việc hoàn thành sứ mạng của ông.
Tất nhiên, ông đã được thông báo về lập trường và chính sách của Hoa Kỳ đối với các thỏa thuận của Hội nghị Genève về Đông Dương, cũng như Tuyên bố của Hoa Kỳ tại hội nghị ấy. Trong những vấn đề này, ông phải tuân theo lập trường và chính sách nói trên.
Tôi trân trọng việc ông nhận lãnh sứ mạng khó khăn và tế nhị này, một sứ mạng có tầm quan trọng rất lớn đối với Hoa Kỳ. Việc giao nhiệm vụ cùng những chỉ thị này là bằng chứng thuyết phục về quyết tâm vững chắc của Chính phủ Hoa Kỳ trong việc giúp nhân dân Việt Nam bảo vệ và phát triển nền tự do cùng phúc lợi của mình.
Thân ái,
Trân trọng,
Dwight D. Eisenhower
Chú thích
1. Bức thư này được soạn thảo tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Một bản dự thảo được Trợ lý Ngoại trưởng Robertson chuyển đến Ngoại trưởng Dulles bằng bản ghi nhớ ngày 02-11 để trình Tổng thống phê chuẩn (120.251G/11–254).
Trong một bản ghi nhớ gửi Tổng thống ngày 03-11, Dulles cho biết bức thư đã được Bộ Quốc phòng và Cơ quan Điều hành Hoạt động Đối ngoại – FOA phê chuẩn, đồng thời được Đại tướng Collins chấp thuận (120.251G/11–354). Tổng thống Eisenhower phê chuẩn bức thư trong cùng ngày. Xem bản ghi nhớ cuộc trao đổi nói trên.
Tòa Bạch Ốc công bố việc bổ nhiệm Đại tướng Collins bằng thông cáo báo chí ngày 03-11. Toàn văn được đăng trong Department of State Bulletin, ngày 22-11-1954, trang 777–778.
Đối chiếu chú thích nguyên bản
2. Xem điện văn số 1679 gửi Sài Gòn ngày 22-10, trang 2161.
3. Xem điện văn số 1609 từ Sài Gòn ngày 27-10, trang 2188.
Nguyên bản: The President to General J. Lawton Collins — November 3, 1954
PHỤ LỤC 2
Link:
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1293?utm_source=chatgpt.com
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 2
120.251G/11–154: Telegram
The Secretary of State to the Embassy
in France1
top secret
niact
Washington, November 1, 1954—7:37 p.m.
1608. For Ambassador Dillon from
Secretary. FYI the President has given further consideration to
rapidly deteriorating situation in Vietnam. The major aspects of situation
there are the continuing civil-military conflict and the reported expansion of
Viet Minh influence and control. In view imminent change in US Chief of Mission
in Saigon, the President has decided to send Gen. J. Lawton Collins as
Special US Representative with personal rank of Ambassador to Saigon on a
temporary mission to continue efforts already begun to coordinate and direct US
activities in Vietnam in support of US policy objectives. There should be
overlap of a few days between Ambassador Heath and Gen. Collins.
After Heath’s departure Kidder will act as [Page 2201]Chargé d’Affaires. While it is difficult to
estimate how long Gen. Collins mission will require, we can assume
forty to sixty days with possibly ninety days at most. His terms of reference
are in separate telegram.2 End FYI.
It is essential that the Governments of Vietnam and France
be informed about the President’s decision before any public announcement is
made. Accordingly, you are requested immediately to inform Mendes-France,
or in his absence appropriate high authority, as follows:
Begin message. I have read with great interest
Ambassador Dillon’s report of M. LaChambre’s suggestion, following my
telegram to you of Friday, Oct 29, that both US and French representatives in
Saigon be given greater degree of authority.3 I
have taken this matter up with the President who immediately agreed. The
President has designated Gen. J. Lawton Collins as Special US
Representative with the personal rank of Ambassador to direct and coordinate an
urgent emergency program to help meet the threats to Vietnam’s independence and
security. As you may know Ambassador Heath’s tour of duty in Saigon is
completed and he is about to leave. For a limited period of sixty to ninety
days thereafter Gen. Collins will have broad authority to direct,
utilize and control all agencies and resources of the US Government with
respect to Vietnam. Gen. Collins will be temporarily relieved of his
duties as US Representative on the Military Committee of NATO. He has the
complete confidence of the President, myself and other interested Departments
and Agencies. His wide contacts with French officials, particularly
with Gen. Ely, will enable him to provide effective assistance in helping
to meet urgent tasks in Vietnam. The visits which Gen. Collins has
already made to Vietnam while Chief of Staff US Army have familiarized him with
the background. I believe this action of the President is responsive to
M. LaChambre’s point. End message.
I desire that you act on above instructions immediately and
report your conversations urgently so that plans can proceed for public
announcement if possible Tuesday afternoon Washington time, and with departure
late Wednesday, November 3, 1954, for Saigon.4 Heath should
orally inform Gen. Ely.
Dulles
- Drafted
by Young of PSA. Repeated niact to Saigon for
information as telegram 1808.↩
- Regarding
the terms of reference for General Collins, see letter from the
President to Collins, Nov. 3, p.
2205.↩
- In
telegram 1844 from Paris, Nov. 2, Dillon reported the following:
“In absence both Mendes and La Chambre and at
suggestion Mendes’ office letter to Mendes containing
message given your 1608 handed Margerie this morning with copy
to Saint-Mleux, La Chambre’s Chef de Cabinet. Both
expressed appreciation and keen interest in this step. Presumably no
objection immediate announcement.” (751G.13/11–254) The Ambassador added
the following later in the day in telegram 1858:
“Margerie confirms Mendes pleased and entirely agreeable
immediate announcement.” (751G.13/11–254)↩
GPT DỊCH
PHỤ LỤC 2
Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 2
120.251G/11–154: Điện văn
Ngoại trưởng Hoa Kỳ gửi Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Pháp¹
TỐI MẬT
NIACT – Điện khẩn, phải xử lý ngay cả ngoài giờ hành chánh
Washington, ngày 01 tháng 11 năm 1954 — 7 giờ 37 phút tối.
1608. Ngoại trưởng gửi Đại sứ Dillon.
Để biết: Tổng thống đã xem xét thêm tình hình đang xấu đi nhanh chóng tại Việt Nam. Những phương diện chính của tình hình tại đó là cuộc xung đột dân sự–quân sự vẫn đang tiếp diễn và những báo cáo về sự mở rộng ảnh hưởng cùng quyền kiểm soát của Việt Minh.
Trước sự thay đổi sắp xảy ra đối với người đứng đầu phái bộ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Tổng thống đã quyết định cử Đại tướng J. Lawton Collins đến Sài Gòn làm Đại diện đặc biệt của Hoa Kỳ, với hàm cá nhân Đại sứ, trong một sứ mạng tạm thời nhằm tiếp tục những nỗ lực đã được khởi sự để phối hợp và chỉ đạo các hoạt động của Hoa Kỳ tại Việt Nam, phục vụ các mục tiêu chính sách của Hoa Kỳ.
Đại sứ Heath và Đại tướng Collins sẽ cùng làm việc trong vài ngày để tiến hành việc chuyển tiếp. Sau khi Heath rời nhiệm sở, Kidder sẽ giữ chức Đại biện lâm thời.
Mặc dù khó ước tính sứ mạng của Đại tướng Collins sẽ kéo dài bao lâu, chúng ta có thể dự liệu khoảng từ 40 đến 60 ngày, và có thể nhiều nhất là 90 ngày. Những điều khoản quy định nhiệm vụ của ông được trình bày trong một điện văn riêng.²
Hết phần để biết.
Điều thiết yếu là Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp phải được thông báo về quyết định của Tổng thống trước khi có bất kỳ sự công bố nào trước công chúng. Vì vậy, ông được yêu cầu lập tức thông báo cho Thủ tướng Mendès-France; hoặc trong trường hợp ông ấy vắng mặt, cho giới chức có thẩm quyền thích hợp, với nội dung như sau:
Bắt đầu thông điệp.
Tôi đã hết sức quan tâm đọc báo cáo của Đại sứ Dillon về đề nghị của ông La Chambre — tiếp theo điện văn tôi gửi cho ông vào thứ Sáu, ngày 29-10 — rằng các đại diện của Hoa Kỳ và Pháp tại Sài Gòn cần được trao thẩm quyền rộng lớn hơn.³
Tôi đã trình vấn đề này với Tổng thống và Tổng thống lập tức đồng ý. Tổng thống đã chỉ định Đại tướng J. Lawton Collins làm Đại diện đặc biệt của Hoa Kỳ, với hàm cá nhân Đại sứ, để chỉ đạo và phối hợp một chương trình khẩn cấp cấp thời nhằm giúp đối phó với những mối đe dọa đối với nền độc lập và an ninh của Việt Nam.
Như ông có thể đã biết, nhiệm kỳ công tác của Đại sứ Heath tại Sài Gòn đã kết thúc và ông ấy sắp rời nhiệm sở. Trong một thời hạn giới hạn từ 60 đến 90 ngày sau đó, Đại tướng Collins sẽ được trao thẩm quyền rộng lớn để chỉ đạo, sử dụng và kiểm soát tất cả các cơ quan cùng nguồn lực của Chính phủ Hoa Kỳ liên quan đến Việt Nam.
Đại tướng Collins sẽ tạm thời được miễn nhiệm vụ Đại diện Hoa Kỳ tại Ủy ban Quân sự NATO. Ông nhận được sự tín nhiệm hoàn toàn của Tổng thống, của tôi cùng các Bộ và cơ quan hữu quan khác.
Những mối liên hệ rộng rãi của ông với các giới chức Pháp, đặc biệt với Đại tướng Ely, sẽ giúp ông hỗ trợ hữu hiệu việc giải quyết những nhiệm vụ cấp bách tại Việt Nam. Những chuyến thăm Việt Nam mà Đại tướng Collins đã thực hiện trước đây, trong thời gian giữ chức Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, đã giúp ông quen thuộc với bối cảnh tại đây.
Tôi tin rằng quyết định này của Tổng thống đáp ứng quan điểm mà ông La Chambre đã nêu ra.
Hết thông điệp.
Tôi yêu cầu ông thi hành ngay những chỉ thị nói trên và khẩn cấp báo cáo lại các cuộc trao đổi của ông, để kế hoạch công bố trước công chúng có thể được tiến hành — nếu có thể — vào chiều thứ Ba theo giờ Washington; đồng thời chuẩn bị để Đại tướng Collins khởi hành đi Sài Gòn vào cuối ngày thứ Tư, 03-11-1954.⁴
Heath phải trực tiếp thông báo bằng lời cho Đại tướng Ely.
Dulles
Chú thích
1. Điện văn do Young thuộc Văn phòng phụ trách các vấn đề Philippines và Đông Nam Á – PSA soạn thảo. Điện văn cũng được chuyển khẩn theo cấp độ NIACT đến Sài Gòn để biết, dưới số điện văn 1808.
Đối chiếu chú thích nguyên bản
2. Về những điều khoản quy định nhiệm vụ của Đại tướng Collins, xem thư của Tổng thống gửi Collins ngày 03-11, trang 2205.
3. Xem điện văn số 1565 gửi Paris ngày 29-10, trang 2193; và điện văn số 1835 từ Paris ngày 30-10, trang 2196.
4. Trong điện văn số 1844 từ Paris ngày 02-11, Đại sứ Dillon báo cáo như sau:
“Do cả Mendès và La Chambre đều vắng mặt, và theo đề nghị của văn phòng Mendès, sáng nay bức thư gửi Mendès, chứa đựng thông điệp trong điện văn số 1608 của ông, đã được trao cho Margerie, đồng thời một bản sao được gửi cho Saint-Mleux, Chánh Văn phòng của La Chambre. Cả hai đều bày tỏ sự đánh giá cao và đặc biệt quan tâm đến bước đi này. Có lẽ không có sự phản đối nào đối với việc công bố ngay lập tức.”
(751G.13/11–254)
Cuối ngày hôm đó, Đại sứ bổ sung trong điện văn số 1858:
“Margerie xác nhận Mendès hài lòng và hoàn toàn đồng ý với việc công bố ngay lập tức.”
(751G.13/11–254)
Đối chiếu chú thích nguyên bản
Nguyên bản: The Secretary of State to the Embassy in France — November 1, 1954
HẾT