Trang

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

6717. 01-12-1954 (C): Điện văn số 2031 của Collins về cuộc trao đổi với Cao ủy Anh tại Đông Nam Á

01-12-1954 (C): Điện văn số 2031 của Collins về cuộc trao đổi với Cao ủy Anh tại Đông Nam Á Malcolm MacDonald — Văn kiện số 1355. 06 nhiệm vụ của Collins(1) Tổ chức lại các lực lượng vũ trang Việt Nam và thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa quân đội với chính quyền dân sự. (2) Củng cố Chính phủ Diệm. (3) Tái định cư người tị nạn và những người phải rời bỏ nơi cư trú. (4) Cải cách ruộng đất. (5) Thành lập Quốc hội. (6) Những vấn đề tài chính và kinh tế liên quan đến viện trợ trực tiếp.

Link nguyên văn:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1355?utm_source=chatgpt.com

08TL.

GPT DỊCH

 

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 2

751G.00/12–154: Điện văn

Đại biện Hoa Kỳ tại Việt Nam (Kidder) gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

Mật

Sài Gòn, ngày 1 tháng 12 năm 1954 — 3 giờ chiều.


2031. Chuyển để biết đến Paris, số 653; Singapore, số 20; London, số 24; Phnom Penh và Vientiane không đánh số. Từ Collins.

Hôm qua, Malcolm MacDonald, Cao ủy Anh tại Đông Nam Á, cùng Đại sứ Anh Stephenson, đã đến gặp tôi và Đại biện.

Chúng tôi đã có một cuộc thảo luận hết sức thẳng thắn. Mở đầu, MacDonald nói rằng ông đến đây để xem xét tình hình tại các Quốc gia Liên kết, đặc biệt là để gặp tôi và đề nghị mọi sự giúp đỡ mà ông hoặc Đại sứ Anh có thể thực hiện nhằm ủng hộ chính sách đã được chính phủ Pháp, Anh và Hoa Kỳ kiên quyết xác định: ủng hộ ông Diệm và nỗ lực tạo lập một tình hình ổn định.

Tôi trình bày những diễn biến mới nhất, kể cả chuyến thị sát miền Nam Việt Nam hiện nay của ông Diệm, và nhấn mạnh rằng chúng tôi tin cần phải củng cố Chính phủ Diệm, đặc biệt tại các Bộ Quốc phòng, Nội vụ và Thông tin.

MacDonald hoàn toàn đồng ý với sự phân tích tình hình của tôi và nhận định rằng ông Quát là nhân vật cần thiết cho chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng. Ông hỏi liệu trong lúc tiến hành củng cố chính phủ, có nên mở rộng thành phần chính phủ một cách tổng quát hay không, kể cả việc đưa ông Ng. Hiệp vào Bộ Y tế.

Ông cũng đưa ra những lập luận ủng hộ việc bổ nhiệm ông Tâm vào Bộ Nội vụ, nhưng không thúc đẩy vấn đề quá mạnh vì biết ông Diệm đã kiên quyết từ chối chấp nhận ông Tâm. Cuối cùng, ông đồng ý rằng củng cố Nội các từng bước sẽ tốt hơn việc cố gắng cải tổ toàn diện trong tình hình chính trị nội bộ vô cùng phức tạp.

Tôi trình bày với MacDonald sáu lĩnh vực hoạt động mà tôi hy vọng có thể khởi động những hành động thiết thực trong thời gian thực hiện nhiệm vụ có giới hạn của mình:

(1) Tổ chức lại các lực lượng vũ trang Việt Nam và thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa quân đội với chính quyền dân sự.

(2) Củng cố Chính phủ Diệm.

(3) Tái định cư người tị nạn và những người phải rời bỏ nơi cư trú.

(4) Cải cách ruộng đất.

(5) Thành lập Quốc hội.

(6) Những vấn đề tài chính và kinh tế liên quan đến viện trợ trực tiếp.

Tôi cung cấp cho MacDonald những con số ước tính về quân số Việt Nam mà tôi đề nghị và các chi phí Hoa Kỳ sẵn sàng gánh chịu. Đối với Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC), tôi cho ông biết khái quát mức quân số mà chúng ta có thể sẵn sàng viện trợ.

Tôi nói với ông rằng tôi đang hợp tác chặt chẽ với Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh Ely; Hoa Kỳ không hề tìm cách thay thế Pháp tại Đông Dương, cũng không sẵn sàng tiếp nhận trách nhiệm phòng thủ khu vực—một trách nhiệm rõ ràng vẫn thuộc về Pháp.

Tôi kết thúc phần trình bày bằng việc giải thích quan niệm của mình về những thực tế chiến lược tại phần Việt Nam tự do.

Tôi nói với MacDonald rằng chỉ thị dành cho tôi yêu cầu xây dựng một lực lượng chỉ đủ lớn để bảo đảm an ninh nội bộ. Lực lượng này cùng với Quân đoàn Viễn chinh Pháp sẽ đóng vai trò như một lực lượng đệm, có khả năng ngăn chặn ít nhất trong một thời gian bất cứ hành động xâm lược nào.

Xét khoảng thời gian còn lại trước ngày tuyển cử được đề cập trong Hiệp định Genève, cùng khối lượng công việc to lớn cần thiết để xây dựng một Quân đội Việt Nam vững mạnh, tôi cho rằng quân số từ 80.000 đến 85.000 người là thực tế.

Tuy nhiên, vì lực lượng này có quy mô nhỏ, cộng với Quân đoàn Viễn chinh Pháp—nếu quân số của Quân đoàn được xác định tương xứng với số tiền chúng ta sẵn sàng viện trợ—nên cần phải tìm một phương tiện khác để bảo đảm an toàn cho khu vực. Tôi nói rằng phương tiện đó chính là Hiệp ước Manila.

Hiệp ước này phải được phê chuẩn càng sớm càng tốt. Vào thời điểm phê chuẩn hoặc ngay sau đó, các quốc gia ký kết nên đưa ra một tuyên bố, khẳng định quyết tâm hoàn toàn ủng hộ Hiệp ước và chống lại bất cứ hành động xâm lược nào tại Đông Nam Á.

MacDonald nói rằng người Anh mong muốn Hiệp ước có những điều khoản mạnh mẽ hơn. Ông đồng ý với nhận xét của tôi rằng muốn có giá trị thực tế, Hiệp ước phải tạo thành một sự đe dọa thực sự đối với phía Cộng sản.

MacDonald nói rằng trong các cuộc nói chuyện với Thủ tướng Diệm, ông sẽ ủng hộ đề nghị của tôi về việc đưa ông Quát vào Nội các. Ông và Đại sứ Anh cũng sẵn sàng giúp đỡ tại bất cứ nơi nào có thể.

Tuy nhiên, ông đưa ra hai nhận xét mà ông cho rằng cần phải nói rõ:

(1) Ông không hài lòng với kế hoạch của chúng ta về việc giảm quân số Quân đội Việt Nam, vì ông tin rằng một quân đội Việt Nam đông đảo là một trong những điều kiện thiết yếu để khôi phục tinh thần quốc gia.

(2) Ông cho rằng đại diện Anh, Pháp, Australia và New Zealand nên gặp nhau sớm nhất có thể để phác thảo các kế hoạch phòng thủ quân sự cho Đông Nam Á. Nếu đưa các quốc gia Đông Nam Á vào những cuộc thảo luận này, tin tức sẽ xuất hiện trên báo chí ngay ngày hôm sau.[1]

Kidder

Chú thích của FRUS

1. Collins và MacDonald có một cuộc gặp tiếp theo vào ngày 9-12-1954. Nội dung cuộc gặp được báo cáo trong Điện văn số 2188 từ Sài Gòn, ngày 10-12-1954. (751G.00/12–1054)

Nguồn: Office of the Historian – FRUS, Văn kiện 1355

Hết phần dịch nguyên văn.

Tóm lược Điện văn số 2031 ngày 01-12-1954

Collins báo cáo cuộc gặp với Cao ủy Anh Malcolm MacDonald:

  • Anh, Pháp và Hoa Kỳ cùng xác định chính sách ủng hộ Chính phủ Diệm và ổn định tình hình Quốc gia Việt Nam.
  • Collins nêu sáu nhiệm vụ: tổ chức lại quân đội; củng cố Chính phủ Diệm; định cư người tị nạn; cải cách ruộng đất; thành lập Quốc hội; giải quyết các vấn đề tài chính, kinh tế liên quan đến viện trợ trực tiếp.
  • Ông đề nghị quân đội Việt Nam có khoảng 80.000–85.000 người, chủ yếu giữ an ninh nội bộ; Quân đoàn Viễn chinh Pháp tạm thời hỗ trợ chống ngoại xâm.
  • Hoa Kỳ không chủ trương thay thế Pháp hay nhận trách nhiệm phòng thủ Đông Dương; an ninh bên ngoài phải dựa thêm vào Hiệp ước Manila.
  • MacDonald đồng ý giúp củng cố Nội các Diệm và ủng hộ ông Quát giữ Bộ Quốc phòng, nhưng không tán thành việc giảm mạnh quân số Việt Nam.