Chữ in trên ảnh: IMAGES DÉFENSE
- Images = Hình ảnh.
- Défense = Quốc phòng (tiếng Pháp).
Ghép lại, Images Défense là tên của cơ quan lưu trữ và phân phối hình ảnh của Bộ Quốc phòng Pháp.
Chữ Images Défense có ý nghĩa là nơi lưu trữ bức ảnh.
Chữ in trên ảnh: IMAGES DÉFENSE
Ghép lại, Images Défense là tên của cơ quan lưu trữ và phân phối hình ảnh của Bộ Quốc phòng Pháp.
Chữ Images Défense có ý nghĩa là nơi lưu trữ bức ảnh.
Bảo Đại (1913–1997), tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy.
Vua Khải Định qua đời ngày 6-11-1925.
Ông kế vị và chính thức lên ngôi ngày 8-1-1926.
Ông thoái vị ngày 25-8-1945.
Năm 1949, (36 tuổi) ông trở thành Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
Ngày 23-10-1955, chính quyền của Thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ý về việc phế truất Quốc trưởng Bảo Đại.
Cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, một cuộc bỏ phiếu mà nhiều nhà nghiên cứu và sử gia sau này đánh giá là không diễn ra một cách tự do và công bằng
Bạn Nhân Nghĩa cho biết 16 ảnh dưới đây là ảnh Quốc trưởng Bảo Đại tại Nam phần năm 1949.
Thỏa ước ngày 29‑01‑1947: Hai Tầng Độc Lập của Quân Đội Cao Đài.
Dương Xuân Lương.
Khoản 18 giờ 30 đêm Giao Thừa năm Bính Tuất (21-01-1947) Việt Minh tấn công vào Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh từ hai hướng Đông Bắc (phía Từ Bi nay là cửa 10 và 11) và Đông Nam (phía Phước Đức Cù nay là cửa 8 và 9).
BBT: Trong bài QUỐC SỰ VỤ (01-03-1947) Đức Hộ Pháp nhắc đến ông Bollaert:
... Nội Các Pháp sai ông Bollaert là một nhà chánh trị có biệt tài sang Ðông Dương mang theo những Huấn Lịnh, những điều kiện, những qui tắc chánh trị để tranh thủ với cái mục đích chánh trị của dân chúng Ðông Dương mà nhứt là dân chúng Việt Nam.
VIỆT NAM ĐƯỢC ĐỘC LẬP TRONG LIÊN HIỆP PHÁP.
Tại Ðền Thánh, đêm 26 tháng
giêng năm Mậu Tý (dl. 05-03-1948)
Đức Hộ Pháp.
Hôm nay có tin lành nên Bần Ðạo lên
giảng giải cho toàn Ðạo được hay biết.
Mới đây có tin vô tuyến điện cho hay rằng: Cựu Hoàng Ðế Bảo Ðại đã đem cho nước ta được độc lập và thống nhứt, vì nước Pháp có tuyên bố cho cả toàn cầu hay rằng đã chấp thuận rồi, duy còn ký kết bản hiệp ước với Pháp nữa là xong.
Đôi Điều Thưa Lại với Giáo Sư Nguyễn
Khắc Ngữ.
Bài 1.
Dương Xuân Lương.
Ông Nguyễn Khắc Ngữ (1935-1992) sinh tại Duyên Hà, Thái Bình, di cư vào Nam năm 1954. Ông nhập ngũ khóa 21 Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, ra trường phục vụ trong binh chủng Không Quân.
Ảnh và Lời Thuyết Đạo bổ sung cho nhau: Ảnh có tháng năm, nhưng không xác định ngày giờ; Lời Thuyết Đạo Q2, trang 83 dạy rõ buổi lễ tiếp rước diễn ra sáng ngày 15-06-1948. BBT.
Tại Ðền Thánh, thời Tý đêm
mồng 9 tháng 5 năm Mậu Tý (dl. 15-06-1948)
Ngày hôm nay, Bần Ðạo đình sự khảo cứu
phong hóa của nhà
Tại Ðền Thánh, thời Tý đêm
28 tháng 4 năm Mậu Tý (dl. 05-06-1948)
Nội sáng mai nầy là ngày định vận mạng
tương lai tiền đồ Tổ quốc cả nòi giống Việt
Kỳ trước, khi Bần Ðạo ở Hồng Kông về, Bần Ðạo có lên tòa giảng nầy nói rằng, cái khó là chẳng phải do nơi Pháp nữa, mà lại do Việt Nam ta, bao giờ cũng vậy, nhơn tâm vẫn thế. Trải tám mươi năm lệ thuộc, chúng ta chịu thống khổ tâm hồn đã nhiều rồi, bây giờ chúng ta hẳn đòi lại, đòi cho kỳ được, và phải được mà thôi, nhứt quyết như vậy.
BBT nhờ GPT chuyển LỜI NÓI ĐẦU sách Bảo-Đại Các Đảng-Phái Quốc-Gia và Sự Thành-lập Chính-quyền Quốc-gia của Giáo Sư Nguyễn Khắc Ngữ thành bản vi tính.
Viết để tưởng niệm các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, những người đã góp phần xây dựng nền giáo dục mới cho nước Việt Nam độc lập và một thế hệ trí thức mới đã đứng ra làm việc nước hồi giữa thế kỷ 20.
***
Nguyễn Khắc Ngữ sinh năm 1935 tại Duyên Hà, Thái Bình, gọi nhà văn hóa Nguyễn Đức Quỳnh bằng cậu, học trung học Lê Quí Đôn tại tỉnh nhà, tị nạn cộng sản lần thứ nhất năm 1954, nhập ngũ khóa 21 SVSQ Trừ Bị Thủ Đức, ra trường phục vụ trong binh chủng Không Quân. Ngày 30 tháng 4, 1975 rời Việt Nam, định cư tại Montreal, Canada và lập gia đình tại đây, có một con trai. Anh mất vì ung thư dạ dày năm 1992.
Đó là một đoạn ông Viên Linh viết về Giáo Sư Nguyễn Khắc Ngữ trong bài: Sử gia Nguyễn Khắc Ngữ trong quên lãng, năm 2012.
Nhiều bạn đọc có cùng thắc mắc nên BBT xin trả lời chung.
Ai đã gạch dưới?
Về bài số: 6118.
Sau khi BBT đăng nguyên văn bài cơ từ bộ phận Hiệp Thiên Đài của CQPTGL 171B Cống Quỳnh SG cầu tại Nam Thành Thánh Thất, năm 1970 và tuyên bố là của Hộ Pháp PHẠM CÔNG TẮC Quyền Thượng Tôn Quản Thế Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nhiều đoạn gạch dưới là ai gạch?
Quyển 1, bản in 2005, CQPTGL.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền
tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật
số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó
nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động
thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương
Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội
Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền
tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật
số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó
nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động
thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương
Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội
Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền
tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật
số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó
nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động
thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương
Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội
Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền
tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật
số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó
nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động
thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương
Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội
Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền
tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật
số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó
nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động
thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương
Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội
Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó
nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động
thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương
Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội
Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
CQPTGL có nhiệm vụ biên soạn hàng loạt sách để lấp khoảng trống kinh sách của Hội Thánh.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa mở cửa cho quyền tự do tôn giáo, trong đó có Đạo Cao Đài. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc luật số 003/65 ngày 12-7-1965 nhìn nhận Pháp nhân Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
Các điệp viên cộng sản tùng theo đó nên lập ra Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý 171B Cống Quỳnh SG để hoạt động thành. Ông Đinh Văn Đệ là dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, lấy đạo hiệu Thiên Vương Tinh và làm điệp viên cho cộng sản với bí danh U4 chỉ huy CQPTGL.
Sau 30-4-1975 kinh sách của Hội Thánh Cao Đài lớp thì bị tịch thu, lớp bị đốt và không được tái bản.
CQPTGL có nhiệm vụ biên soạn hàng loạt sách để lấp khoảng trống kinh sách của Hội Thánh.
Luận giải chữ SAU trong đàn cơ ngày
21-02-1926.
Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu,
Q1, trang 56, bản in 1995, Hoa Kỳ. Đàn cơ ngày 21-02-1926:
Qua đến ngày mùng 9 tháng Giêng
(21-2-1926), nhằm ngày Vía Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Quan Phủ Vương Quan Kỳ có
thiết Ðàn riêng tại nhà ông số 80 đường Lagrandière (bây giờ là đường Gia
Long). Ðêm ấy có mời Chư Nhu và mấy vị Ðạo Hữu hầu Ðàn, Thượng Ðế giáng cơ dạy
như vầy:
Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,
Mấy nhánh rồi SAU cũng một nhà.
Chung hiệp rán vun nền đạo đức,
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.
(hết trích)