Trang

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

6729. 16-12-1954 (C): Điện văn số 2303 của Collins. (Cân nhắc 03 nhân vật: Bảo Đại, Phan Huy Quát và Ngô Đình Diệm).

 Theo điện văn số 2303, nhân vật thuận lợi nhất để thống nhất Quốc gia Việt Nam và chống lại cộng sản là Quốc trưởng Bảo Đại. Collins viết rất rõ: “Dường như người Việt Nam duy nhất có thể đủ khả năng thúc đẩy đất nước tiến tới hành động thống nhất là Bảo Đại.”. Lý do Collins đưa ra:

  • Bảo Đại vẫn là nguồn thẩm quyền tối hậu mà hầu hết người Việt Nam ông gặp đều nhìn nhận, kể cả Ngô Đình Diệm.
  • Bảo Đại có thể đứng trên các phe phái để tập hợp họ.
  • Bảo Đại có quyền giữ Diệm, bổ nhiệm Phan Huy Quát hay người khác làm Thủ tướng, hoặc trực tiếp đứng đầu Chính phủ.
  • Người Pháp và người Mỹ không thể thay thế vai trò lãnh đạo của chính người Việt Nam.

Vì vậy, theo cách nhìn của Collins ngày 16-12-1954: Bảo Đại là nhân vật thuận lợi nhất để thống nhất Quốc gia Việt Nam; Phan Huy Quát là nhân vật có thể tổ chức và điều hành; còn Diệm lúc ấy bị Collins đánh giá là thiếu khả năng thống nhất các lực lượng.

 15TL

Link nguyên văn:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1384?utm_source=chatgpt.com


GPT DỊCH

Quan hệ Ngoại giao Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 2

751G.00/12–1654: Điện văn

Quyền Đại biện tại Việt Nam (Kidder) gửi Bộ Ngoại giao

Tối mật
Ưu tiên

Sài Gòn, ngày 16 tháng 12 năm 1954 — 7 giờ tối


2303. Gửi niact tới Paris, số 724. Bộ Ngoại giao chuyển sang Bộ Quốc phòng, chỉ riêng Hensel, Davis và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân được xem. Tại Bộ Ngoại giao, chỉ riêng Quyền Ngoại trưởng và Robertson được xem. Tại Paris, chỉ riêng Ngoại trưởng, Bộ trưởng Quốc phòng và Radford được xem. Từ Collins.

Tham chiếu các điện văn Đại sứ quán số 1830,[1] 2108,[2] 2250,[3] và điện văn số 2285 của Bộ Ngoại giao[4] (đoạn 8), đã được chuyển lặp lại tới Paris với các số 602, 665, 706 và 717.

1.

Quyết định của ông Diệm không bổ nhiệm ông Quát làm Bộ trưởng Quốc phòng là diễn biến cuối cùng khiến tôi tin chắc rằng ông Diệm không có khả năng thống nhất các phe phái đang chia rẽ tại Việt Nam; và nếu không có một hành động tương tự như đề nghị trong đoạn 7 dưới đây, đất nước này sẽ rơi vào tay cộng sản.

Những lý do dẫn đến quyết định của ông Diệm có lẽ gồm:

  1. Không muốn giao quyền kiểm soát các lực lượng vũ trang Việt Nam cho bất kỳ nhân vật mạnh nào;
  2. Lo ngại ông Quát có thể trở thành người kế nhiệm;
  3. Sự phản đối của các giáo phái;
  4. Ảnh hưởng của hai người em là Luyện và Nhu;
  5. Mong muốn giữ ông Minh trong Chính phủ.

2.

Dù vì bất cứ lý do nào, việc không sử dụng ông Quát là biểu hiện điển hình của tình trạng thiếu đoàn kết giữa người Việt Nam và sự thiếu lãnh đạo quyết đoán của ông Diệm.

Ông Minh không chịu gác lại tham vọng cá nhân, dù chỉ trong một giai đoạn chuyển tiếp kéo dài vài tháng dưới quyền ông Quát hoặc bất cứ người nào khác.

Ông Luyện một lần nữa chứng tỏ khả năng khiến ông Diệm đảo ngược một quyết định đã được đưa ra. Trước khi ông Luyện từ Paris trở về, ông Diệm đã nói với tôi rằng ông sẽ bổ nhiệm ông Quát.

Quyền phủ quyết của các giáo phái đối với bất kỳ sự thay đổi nào trong Chính phủ có khả năng làm suy yếu những lãnh địa riêng của họ đã được xác nhận.

Một nhân vật mạnh mẽ và tích cực khác là ông Quát đã bị ngăn cản tham gia việc tổ chức lại và kiểm soát các lực lượng vũ trang. Tất cả những kết quả tiêu cực này đã phải trải qua một tháng bàn luận kéo dài, né tránh các vấn đề căn bản và bỏ phí các cơ hội.

3.

Ông Minh là người tốt, mặc dù còn trẻ và thiếu kinh nghiệm. Tướng O’Daniel cho rằng nếu ông Diệm giao toàn quyền cho ông Minh, thì ông Minh có thể hàn gắn những rạn nứt phát sinh từ các vụ Diệm–Hinh, Tỵ–Vy và Phan Rang–Phan Thiết, đồng thời đem lại sự ổn định và hợp lý cho mối quan hệ giữa Chính phủ và quân đội.

Nhưng tôi hết sức hoài nghi rằng ông Minh, hoặc bất kỳ ai khác trong hoàn cảnh hiện nay, có thể hợp nhất năm lực lượng riêng biệt đang tồn tại thành một quân đội quốc gia duy nhất và thống nhất. Năm lực lượng ấy gồm:

  • Quân đội Cao Đài;
  • Quân đội Hòa Hảo;
  • Bình Xuyên;
  • Vệ binh Quốc gia;
  • Quân đội Quốc gia hiện hữu.

Trước sự chống đối có thể dự liệu từ các giáo phái và cả từ chính ông Diệm — người không muốn giải tán lực lượng riêng của mình là Vệ binh Quốc gia — việc giảm quân số và hợp nhất các lực lượng này sẽ đòi hỏi sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn từ ông Diệm và ông Minh so với những gì cả hai người đã thể hiện cho đến nay.

4.

Điều đang xảy ra đối với các lực lượng vũ trang có lẽ cũng sẽ xảy ra trong công cuộc định cư người tị nạn và cải cách điền địa.

Gần đây, khi tôi nói với ông Diệm rằng các nhân viên FOA của chúng tôi gặp khó khăn trong việc bắt tay vào công việc cụ thể với các viên chức nông nghiệp Việt Nam, ông Diệm nhắc tôi rằng Bộ trưởng Canh nông là người Hòa Hảo và phía Hòa Hảo lo ngại ảnh hưởng của cải cách điền địa đối với quyền kiểm soát rộng lớn của họ trên những vùng trồng lúa.

Các viên chức Chính phủ ngần ngại đưa người tị nạn đến định cư trên những ruộng lúa thuộc sở hữu của người Pháp hoặc trong những đồn điền cao su do người Pháp làm chủ. Và cứ như thế, hết lý do này đến lý do khác được đưa ra để biện minh cho sự không hành động.

5.

Sự thật là trong chương trình cải cách tốt đẹp mà ông Diệm công bố vào tháng 9, chưa có tiến bộ rõ rệt nào đạt được trong việc biến lời nói thành hành động ở bất kỳ lĩnh vực nào.

6.

Tôi từng hy vọng ông Diệm sẽ mở rộng và củng cố Nội các bằng cách đưa ông Quát và có lẽ cả Bảy Viễn vào Chính phủ.

Bất chấp quá khứ tai tiếng, Bảy Viễn đã chứng tỏ khả năng tổ chức; gần đây ông ta còn bày tỏ mong muốn trở thành một người “đáng kính” và giúp đỡ Chính phủ.

Nếu có mặt trong Chính phủ, ông Quát có thể từng bước đưa các giáo phái vào khuôn khổ; đồng thời, bằng năng lực chính trị thực tiễn, ông có thể đem lại một mức độ linh hoạt và sức thúc đẩy — hai điều hiện đang thiếu hụt một cách trầm trọng.

Cùng lúc đó, ông Quát có thể nâng cao uy tín trước công chúng, khiến ông về sau trở thành người thích hợp hơn cho một chức vụ cao hơn nếu xét thấy cần phải thay thế ông Diệm.

Đáng tiếc, có lẽ ông Luyện và cả ông Diệm cũng đã nhận ra điều này. Tôi tin chắc rằng sự e ngại trước năng lực của ông Quát là nguyên nhân căn bản dẫn đến sự chống đối của các giáo phái và ông Diệm.

7.

Sau khi cân nhắc tất cả những chứng cứ hiện có, giờ đây tôi tin rằng trước mối đe dọa rõ ràng từ chế độ Hồ Chí Minh, muốn cứu Việt Nam tự do thì chính người Việt Nam phải có hành động quyết đoán và sự lãnh đạo có sức gây chấn động mạnh mẽ.

Cả người Pháp lẫn người Mỹ đều không thể thay thế hành động và sự lãnh đạo ấy.

Dường như người Việt Nam duy nhất có thể đủ khả năng thúc đẩy toàn quốc tiến tới hành động thống nhất là Bảo Đại.

Mặc dù tôi không quen biết ông và nhận thức được nhiều nhược điểm của ông, nhưng có thể ông sẽ tạo được tác động cần thiết nếu trở về và trực tiếp lãnh đạo Chính phủ — dù ông giữ ông Diệm làm Thủ tướng, bổ nhiệm ông Quát hoặc một người khác làm Thủ tướng, hay chính ông đảm nhiệm chức vụ ấy.

Hầu như tất cả những người Việt Nam mà tôi đã nói chuyện, kể cả ông Diệm, đều theo bản năng xem Bảo Đại là nguồn thẩm quyền tối hậu.

[Trang 2381]

Dĩ nhiên, nếu chúng ta và người Pháp ủng hộ việc Bảo Đại trở về, thì những điều kiện cụ thể phải được quy định trước, về đại thể như đã nêu tại Phần II, đoạn 3(B), điện văn Đại sứ quán số 2250.

Tôi cũng nhận thức rằng việc Bảo Đại trở về sẽ cung cấp cho cộng sản một tài liệu tuyên truyền rất tốt. Nhưng nếu họ không có sẵn loại tài liệu ấy, họ cũng sẽ tự tạo ra mà thôi.

Vì vậy, sau khi cân nhắc tất cả những yếu tố khác, chúng ta không nên để khía cạnh này quyết định đường lối của mình.

8.

Tôi nhận thức rằng ít nhất trong một thời gian nữa, chúng ta phải tiếp tục ủng hộ Chính phủ Diệm. Nhưng tôi đề nghị hiện nay chúng ta chưa nên hoàn tất thỏa thuận với phía Việt Nam về việc Hoa Kỳ sẽ nhận trách nhiệm huấn luyện các lực lượng của họ hoặc trực tiếp viện trợ quân sự kể từ ngày 1 tháng 1.

Chúng ta nên tiếp tục bố trí các sĩ quan Hoa Kỳ làm việc bên cạnh Bộ Tham mưu Quân đội Việt Nam và giúp xây dựng các kế hoạch huấn luyện cùng kế hoạch bình định.

Chúng ta nên tiếp tục thảo luận với phía Việt Nam nhằm đạt được sự đồng thuận về quân số và thành phần các lực lượng. Nhưng chúng ta không nên ký kết những thỏa thuận chính thức về huấn luyện hoặc hỗ trợ một mức quân số cụ thể, cho đến khi Washington quyết định chính sách và những cam kết cuối cùng của chúng ta tại đây.

Tương tự, việc chuẩn bị để bắt đầu viện trợ quân sự trực tiếp từ ngày 1 tháng 1 vẫn nên được tiếp tục; nhưng chúng ta không nên tự ràng buộc vào bất kỳ quy mô viện trợ cụ thể nào cho đến khi Hoa Kỳ thông qua một chính sách dứt khoát đối với Việt Nam.

Trong khi đó, tôi mạnh mẽ đề nghị xem xét việc đưa Bảo Đại trở về theo một trong những phương án đã nêu tại đoạn 7 trên đây và đoạn 2 của điện văn Đại sứ quán số 2250. (Về quan điểm của Tướng Ely, cũng xin xem đoạn 5, điện văn Đại sứ quán số 2285, được chuyển lặp lại tới Paris với số 717.)

Vì vậy, những đề nghị hiện tại của tôi là:

a. Tiếp tục ủng hộ ông Diệm theo đường lối hiện nay thêm một thời gian ngắn, nhưng không cam kết Hoa Kỳ vào những chương trình viện trợ cụ thể;

b. Khẩn cấp xem xét khả năng sớm đưa Bảo Đại trở về như một phương án thay thế;

c. Nếu sau một thời gian ngắn được thử thách thêm, Chính phủ Diệm không đạt được những tiến bộ đáng kể, và nếu việc Bảo Đại trở về được Chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận, thì Hoa Kỳ nên ủng hộ việc ông nhanh chóng trở về;

d. Nếu Chính phủ Hoa Kỳ không chấp thuận việc Bảo Đại trở về, và giả định rằng Chính phủ Diệm vẫn tiếp tục biểu lộ sự bất lực trong việc đoàn kết Việt Nam tự do chung quanh một chương trình hành động mạnh mẽ, tôi đề nghị đánh giá lại các kế hoạch hỗ trợ Đông Nam Á của chúng ta, đặc biệt chú ý đến đề nghị nêu tại đoạn 6, Phần II, điện văn Đại sứ quán số 2250.

9.

Tôi lấy làm tiếc phải đưa ra một bản báo cáo bi quan như vậy. Nhưng với tất cả sự thành thật, tôi phải trình bày với quý vị những nhận định hiện tại của tôi vì chúng có thể ảnh hưởng đến ngân sách Hoa Kỳ cho năm 1956 sắp được trình lên Quốc hội.

Nếu xét thấy rằng, do tình hình không vững chắc tại Việt Nam, Hoa Kỳ nên dần dần rút lại sự ủng hộ đối với đất nước này, thì theo ý kiến của tôi, cần phải gia tăng viện trợ cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp, để lực lượng này duy trì đủ sức mạnh trong năm tới, tạo điều kiện cho Hoa Kỳ rút những trang bị thiết yếu mà nếu không có thể rơi vào tay cộng sản.

[Trang 2382]

Vì vậy, theo tôi, chúng ta nên duy trì mức độ linh hoạt cao nhất có thể đối với viện trợ tài chính dành cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp.

10. Kết luận

Có thể trong vòng một tháng tới sẽ xuất hiện một sự cải thiện căn bản nào đó, nhưng tôi hết sức hoài nghi điều này.

Trong khi đó, tôi cho rằng chúng ta phải bình tĩnh đánh giá lại tình hình tại đây trước khi cam kết hơn 300 triệu đô-la cùng uy tín quốc gia của chúng ta trong hoàn cảnh hiện tại.

Tôi sẽ tiếp tục hành động theo đường lối mà tôi đã theo đuổi từ trước đến nay, nhưng sẽ chờ chỉ thị; đồng thời, nếu cần thiết, tôi sẽ tạm thời trì hoãn việc đưa ra những cam kết dứt khoát như đã nêu tại đoạn 8.

Kidder


Chú thích

1. Đề ngày 15 tháng 11, trang 2250.

2. Đề ngày 6 tháng 12, trang 2341.

3. Đề ngày 13 tháng 12, trang 2362.

4. Dẫn chiếu điện văn số 2285 từ Sài Gòn, ngày 15 tháng 12, trang 2375.

Hết dịch nguyên văn

 

Tóm lược Điện văn số 2303 của Collins — ngày 16-12-1954

Đây là điện văn Tối mật – Ưu tiên, được giới hạn cho một số rất ít viên chức cao cấp Hoa Kỳ. Collins đưa ra một đánh giá rất bi quan về Chính phủ Ngô Đình Diệm và đề nghị Washington khẩn cấp xem xét việc đưa Quốc trưởng Bảo Đại trở về Việt Nam.

1. Collins mất lòng tin vào khả năng lãnh đạo của Diệm

Việc Diệm quyết định không bổ nhiệm Phan Huy Quát làm Bộ trưởng Quốc phòng khiến Collins đi đến nhận định rằng Diệm không có khả năng thống nhất các lực lượng đang chia rẽ tại Quốc gia Việt Nam.

Theo Collins, quyết định của Diệm có thể xuất phát từ:

  • Không muốn giao quân đội cho một nhân vật mạnh;
  • Lo ngại Quát có thể trở thành người kế nhiệm;
  • Sự phản đối được cho là của các giáo phái;
  • Ảnh hưởng của hai ông Ngô Đình Luyện và Ngô Đình Nhu;
  • Muốn giữ ông Minh trong Chính phủ.

2. Collins phê phán tình trạng trì hoãn

Collins cho rằng việc không sử dụng Phan Huy Quát biểu hiện:

  • Sự thiếu đoàn kết giữa người Việt Nam;
  • Sự thiếu quyết đoán của Diệm;
  • Ảnh hưởng của Ngô Đình Luyện đối với Diệm;
  • Khả năng các lực lượng Cao Đài và Hòa Hảo ngăn cản những thay đổi bất lợi cho quyền lợi của họ.

Tuy nhiên, đây là nhận định của Collins. Điện văn không đưa ra một tuyên bố chính thức nào của Hội Thánh Cao Đài phản đối Phan Huy Quát.

3. Vấn đề thống nhất quân đội

Collins hoài nghi ông Minh hoặc bất kỳ người nào lúc ấy có thể hợp nhất năm lực lượng thành một quân đội quốc gia thống nhất:

  1. Quân đội Cao Đài;
  2. Quân đội Hòa Hảo;
  3. Bình Xuyên;
  4. Vệ binh Quốc gia;
  5. Quân đội Quốc gia hiện hữu.

Ông cho rằng việc giảm quân số và hợp nhất các lực lượng cần sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn từ Diệm và Minh.

Một chi tiết đáng chú ý: Collins gọi Vệ binh Quốc gia là lực lượng riêng của Diệm, đồng thời cho rằng chính Diệm cũng không muốn giải tán lực lượng này.

4. Cải cách chưa được thực hiện

Collins nhận xét chương trình cải cách mà Diệm công bố vào tháng 9-1954 chưa chuyển được từ lời nói thành hành động.

Ông nêu hai lĩnh vực gặp trở ngại:

  • Định cư người tị nạn;
  • Cải cách điền địa.

Các viên chức Chính phủ không muốn đưa người tị nạn đến những ruộng lúa và đồn điền cao su thuộc sở hữu của người Pháp. Collins cũng thuật lại lời Diệm nói rằng phía Hòa Hảo lo ngại cải cách điền địa ảnh hưởng đến những vùng trồng lúa do họ kiểm soát.

5. Collins từng muốn đưa Quát và Bảy Viễn vào Nội các

Collins hy vọng Diệm sẽ mở rộng Chính phủ bằng cách đưa Phan Huy Quát, và có thể cả Bảy Viễn, vào Nội các.

Ông đánh giá:

  • Bảy Viễn có khả năng tổ chức và đang muốn trở thành người “đáng kính”;
  • Quát có thể giúp đưa các lực lượng giáo phái vào khuôn khổ;
  • Quát có thể đem lại sự linh hoạt và động lực mà Chính phủ Diệm đang thiếu.

Collins cũng nhận thấy nếu Quát thành công trong Chính phủ, uy tín của ông sẽ tăng và ông có thể trở thành người thay thế Diệm sau này. Theo Collins, chính nỗi lo ấy là một nguyên nhân khiến Diệm và những người khác phản đối Quát.

6. Collins đề nghị đưa Bảo Đại trở về

Sau khi cân nhắc tình hình, Collins kết luận rằng chỉ người Việt Nam mới có thể tạo ra sự lãnh đạo đủ mạnh để thống nhất đất nước. Ông viết:

Dường như người Việt Nam duy nhất có thể thúc đẩy toàn quốc tiến tới hành động thống nhất là Bảo Đại.

Collins đề nghị xem xét các khả năng:

  • Bảo Đại trở về và vẫn giữ Diệm làm Thủ tướng;
  • Bảo Đại bổ nhiệm Phan Huy Quát hoặc một người khác;
  • Bảo Đại trực tiếp đứng đầu Chính phủ.

Ông nhấn mạnh rằng hầu hết những người Việt Nam mà ông đã tiếp xúc, kể cả Diệm, đều xem Bảo Đại là nguồn thẩm quyền tối hậu.

7. Chưa nên cam kết viện trợ cụ thể

Collins thừa nhận Hoa Kỳ vẫn phải tạm thời ủng hộ Chính phủ Diệm, nhưng đề nghị:

  • Chưa chính thức nhận trách nhiệm huấn luyện quân đội Việt Nam từ ngày 1-1-1955;
  • Chưa cam kết mức viện trợ quân sự cụ thể;
  • Tiếp tục cử sĩ quan Mỹ làm việc với Bộ Tham mưu Quân đội Quốc gia;
  • Tiếp tục lập kế hoạch huấn luyện và bình định;
  • Chờ Washington quyết định chính sách cuối cùng.

8. Bốn đề nghị của Collins

Collins đề nghị Washington:

  1. Tiếp tục ủng hộ Diệm thêm một thời gian ngắn, nhưng chưa cam kết chương trình viện trợ cụ thể.
  2. Khẩn cấp xem xét việc đưa Bảo Đại trở về.
  3. Nếu Chính phủ Diệm vẫn không tiến bộ, Hoa Kỳ nên ủng hộ Bảo Đại nhanh chóng trở về.
  4. Nếu Washington không chấp nhận Bảo Đại và Diệm vẫn thất bại, Hoa Kỳ phải đánh giá lại toàn bộ kế hoạch viện trợ Đông Nam Á.

9. Khả năng Hoa Kỳ rút lui

Collins còn tính đến trường hợp Hoa Kỳ dần rút lại sự ủng hộ đối với Quốc gia Việt Nam. Khi ấy, ông đề nghị tăng viện trợ cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp để bảo vệ và giúp Hoa Kỳ thu hồi những trang bị quan trọng, tránh rơi vào tay cộng sản.

10. Kết luận của Collins

Trước khi Hoa Kỳ cam kết hơn 300 triệu đô-la và đặt uy tín quốc gia vào tình hình Việt Nam, Collins yêu cầu Washington đánh giá lại toàn bộ chính sách.

Trong lúc chờ chỉ thị, ông sẽ:

  • Tiếp tục làm việc theo đường lối hiện hành;
  • Nhưng tạm thời trì hoãn những cam kết viện trợ dứt khoát.

Ý nghĩa chính

Điện văn cho thấy ngày 16-12-1954, Collins:

Chưa chủ trương lật đổ Bảo Đại; trái lại, ông xem Bảo Đại là nguồn thẩm quyền tối hậu và là phương án có thể trở về để cứu vãn tình hình. Người mà Collins đã bắt đầu nghi ngờ và chuẩn bị phương án thay thế chính là Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Điều này cũng làm nổi bật nhận xét trước đó của Đức cha Lê Hữu Từ: trong lúc Collins và nhiều nhân vật Việt Nam vẫn xem Bảo Đại là cần thiết, Ngô Đình Nhu đã có ý muốn loại bỏ Quốc trưởng.