Lansdale trình bày với Collins một chiến lược tổng thể để giữ miền Nam Việt Nam hay “Ván bài Việt Nam” và những “quân bài” Hoa Kỳ đang nắm giữ. Lansdale đề nghị Collins xây dựng một miền Nam đủ sức tự đứng vững bằng cách thống nhất nỗ lực Mỹ–Việt, làm người Việt Nam mạnh lên và giành được sự tự nguyện ủng hộ của dân chúng; viện trợ Mỹ phải giúp người Việt Nam tự lực chứ không tạo sự lệ thuộc.
- Đại tá Edward G. Lansdale — sĩ quan Không quân Hoa Kỳ, chuyên về hoạt động chính trị–tâm lý và hoạt động bí mật, có quan hệ mật thiết với CIA.
- Trong bối cảnh đầu năm 1955, Tướng John W. “Iron Mike” O’Daniel là Trưởng Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Đông Dương (Chief, MAAG Indochina). Nhiệm vụ chính của ông là phụ trách phía quân sự: tổ chức, cố vấn và huấn luyện Quân đội Quốc gia Việt Nam, đồng thời triển khai chương trình quân sự mà Collins và Tướng Ely đã thỏa thuận.
Link nguồn:
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d2?utm_source=chatgpt.com
GPT DỊCH
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1955–1957, Việt Nam, Tập I
2. Bản ghi nhớ của Trưởng Ban An ninh Quốc gia, Phái bộ Huấn
luyện Quan hệ (Lansdale) gửi Đặc sứ tại Việt Nam (Collins)
Sài Gòn, ngày 3 tháng 1
năm 1955
1.
Đây là một vài suy nghĩ đầu năm mới về vấn đề mà ông và
chúng tôi đang phải đối diện, cùng với một lời đề nghị.
2.
Trước hết, đáng để xem xét giá trị thực sự của những quân bài mà Tổng thống Eisenhower đã trao cho ông
trong ván bài mà chúng ta đang chơi ở đây.
Những quân bài ấy chính là viện trợ trực tiếp của chúng ta
dành cho người Việt Nam. Đối với phần lớn người Mỹ, điều đó có nghĩa là tiền bạc,
vật tư và nhân lực kỹ thuật (cố vấn).
Nhưng trong con mắt của thế giới, và đặc biệt là châu Á, nó
còn mang một ý nghĩa lớn hơn. Nhìn theo cách này, giá trị của những quân bài ấy
trở thành chính châu Á và một phần Trung Đông.
[Trang 4]
3.
Theo cách nhìn của người châu Á, “viện trợ trực tiếp” có
nghĩa là Hoa Kỳ, kẻ thù mạnh nhất của chủ nghĩa Cộng sản, hiện đang trực tiếp hậu
thuẫn những người Việt Nam Tự do chống lại Cộng sản.
Chắc chắn mỗi quốc gia tự do có hiệp ước với Hoa Kỳ, trong
đó chúng ta cam kết hỗ trợ chặt chẽ họ chống lại Cộng sản, đều nhìn thấy một phần
hoàn cảnh của chính mình trong hoàn cảnh của người Việt Nam.
Và mỗi quốc gia ấy, ở những mức độ khác nhau, sẽ xem xét sự
hỗ trợ của chúng ta thực sự có ý nghĩa như thế nào.
Do đó, nếu chúng ta thất bại ở đây hoặc rút lui, dù có rút
lui một cách khéo léo đến đâu, những nhân vật có ảnh hưởng chính trị tại các quốc
gia ấy sẽ nhìn hành động của chúng ta để suy đoán tương lai của chính họ.
Điều này có nghĩa là những người chủ trương làm ăn với Trung
Quốc ở Nhật Bản, những người chống các căn cứ Mỹ ở Philippines, v.v., sẽ thấy lập
luận của họ được củng cố ngay trong nước, đến mức gây ra những khó khăn nghiêm
trọng cho Hoa Kỳ tại những nơi mà hiện nay chúng ta vốn đã phải đối phó với áp
lực chính trị của phe trung lập và Cộng sản.
Điều này còn vượt xa nhận xét thông thường rằng việc mất Việt
Nam sẽ mở cửa Đông Nam Á cho sức năng động của Cộng sản — mà bản thân điều đó
đã đủ nguy hiểm.
4.
Vì vậy, tôi cảm thấy rằng chúng ta có quá nhiều thứ để mất
nên không thể nghĩ đến chuyện thất bại hoặc rút lui.
Chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải thắng ở
đây, nếu không sẽ phải đối diện với một tương lai ngày càng u ám — một di sản
mà không ai trong chúng ta muốn để lại cho con cháu.
5.
Muốn thắng thì cần những gì?
Sẽ cần tất cả những gì chúng ta hiện đang làm và dự định
làm, cộng thêm nhiều hơn nữa — và tôi tin rằng cái “nhiều hơn nữa” ấy hiện đã tồn
tại ở đây dưới dạng một tiềm năng, chỉ đang chờ được sử dụng đúng cách.
6.
Tôi đã thu hẹp những yếu tố mà chúng ta cần để giành thắng lợi
trong cuộc đấu tranh hiện nay tại đây xuống còn ba yếu tố, dù cách nhìn này có
lẽ hơi đơn giản hóa vấn đề.
Tôi tin rằng nếu chúng ta có thể biến ba yếu tố này thành hiện
thực tại đây, thế chủ động sẽ chuyển sang phía chúng ta và chúng ta sẽ bắt đầu
giành thắng lợi.
Hơn nữa, tôi cho rằng đến tháng 6-1955, chúng ta phải có bằng
chứng rõ ràng cho thấy mình có thể biến ba yếu tố ấy thành hiện thực.
Ba yếu tố đó là:
a. Làm việc phối hợp thành công.
b. Làm cho những người Việt Nam Tự do mạnh lên.
c. Làm cho đại bộ phận dân chúng sẵn lòng chấp nhận mọi rủi
ro vì tự do.
7. Làm việc phối hợp thành
công
Đối phương đang đạt được thành công đáng kể trong việc phối
hợp: giữa những người Việt Minh với nhau, giữa Việt Minh với dân chúng ủng hộ họ,
và giữa các cố vấn Trung Quốc với Việt Minh.
Chúng ta còn phải đi một quãng đường nữa mới có thể đạt được
mức phối hợp như vậy, ngay cả giữa chính những người Mỹ chúng ta ở đây, vì nhiều
lý do — trong đó có việc kiểu kỷ luật của chúng ta phát triển chậm hơn so với “kỷ
luật sắt” của Cộng sản.
[Trang 5]
Những quan sát viên thân thiện và có năng lực đã nói với tôi
về những sự va chạm nguy hiểm đang tồn tại giữa các thành viên chủ chốt của
nhóm Hoa Kỳ tại đây.
Có lẽ nguyên nhân căn bản của những sự va chạm ấy là chúng
ta vẫn chưa thống nhất chính xác về:
- Hoa Kỳ
muốn đạt được điều gì tại đây, bất kể phải chấp nhận những rủi ro nào;
- chính
xác phải làm thế nào để đạt được kết quả đó;
- và
chính xác ai sẽ đảm nhận từng phần cụ thể của toàn bộ nhiệm vụ.
Nguyên nhân căn bản này chắc chắn còn bị làm trầm trọng thêm
bởi những bất đồng cá nhân nảy sinh từ áp lực mà tất cả chúng ta phải chịu
trong khi cố gắng hết sức giải quyết các vấn đề tại đây.
Phần lớn những va chạm này có thể được giảm bớt thông qua những
cơ chế mà ông đã thiết lập.
8.
Sự phối hợp của chúng ta với người Pháp, với tư cách những
người phương Tây cùng hoạt động tại một khu vực châu Á, đã tiến triển tốt mặc
dù gặp nhiều trở ngại.
Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp này ngày càng phát triển
thành một kiểu dàn xếp làm việc ba bên nhưng kín đáo: chúng ta đưa một phần
đáng kể quan điểm của Pháp vào các kế hoạch và lời khuyên của mình.
Điều này khác với cách làm việc song phương mà ban đầu ông
đã mô tả và cũng là chính sách công khai của chúng ta: chúng ta thông báo cho
người Pháp về ý định của mình, rồi sau đó trực tiếp làm việc với người Việt
Nam.
Cách làm hiện nay có thể dẫn đến việc lặp lại trong tất cả
các lĩnh vực quan trọng những sai lầm đã góp phần làm suy yếu vị thế của thế giới
tự do tại đây trước Genève, bởi nó dẫn đến việc áp dụng những phương pháp tạo
ra những mục tiêu rất thuận lợi cho Cộng sản trong việc phát động cuộc “kháng
chiến trường kỳ của toàn dân” của họ.
Theo tôi, chúng ta không được công khai giúp mở rộng ảnh hưởng
của Pháp sang những lĩnh vực mà hiện nay Pháp không còn ảnh hưởng.
Chúng ta phải kiên định với những nguyên tắc của chính mình
— những nguyên tắc đã tạo nên sức mạnh cho chúng ta — trong khi vẫn là một đồng
minh thân thiện.
Có lẽ một số trở ngại trong sự phối hợp với người Pháp có thể
được khắc phục nếu xây dựng được một cơ chế nhằm vô hiệu hóa những tin đồn đang
lan truyền trong giới Pháp về ý định của Hoa Kỳ tại đây.
9.
Rất nhiều suy nghĩ và công sức đã được dành cho việc phối hợp
giữa chúng ta với người Việt Nam.
Tuy nhiên, phía chúng ta dường như vẫn còn một số nhầm lẫn
giữa sự thiên vị phe phái và những mục tiêu mong muốn, giữa khả năng của người
Việt Nam và những phương pháp có hiệu quả nhất để làm việc với họ.
Dường như đang xuất hiện sự nghi ngờ ngày càng tăng đối với
thiện chí của chúng ta và khả năng của chúng ta trong việc giúp đỡ một cách
thành công. Nếu sự nghi ngờ ấy tiếp tục phát triển mà không được kiểm soát, nó
có thể gây nguy hiểm cho toàn bộ nỗ lực của chúng ta tại đây.
Việc tăng cường những mối tiếp xúc cá nhân ở mọi cấp trong
nhóm Hoa Kỳ với từng người Việt Nam, trên cơ sở bình đẳng, cùng với việc kiên
nhẫn giải thích lý do của những yêu cầu hoặc lời khuyên, sẽ giúp ích.
Chúng ta phải duy trì và mở rộng tình hữu nghị của mình với
người Việt Nam—
[Trang 6]
—để viện trợ của chúng ta thực sự mang lại kết quả; bởi hiện
nay chúng ta được xem là người bạn chân thành và mạnh mẽ duy nhất của Việt Nam
(ngoài Trung Quốc và Liên Xô), và có lẽ chúng ta là chất xúc tác duy nhất có thể
thúc đẩy những người Việt Nam đứng về phía chúng ta đoàn kết lại với nhau.
10.
Sự phối hợp giữa những người Việt Nam Tự do với nhau tiến
triển chậm.
Vẫn còn quá nhiều tinh thần phe phái, sự ngờ vực và lòng đố
kỵ gây cản trở.
Trong số những biện pháp quan trọng để giải quyết vấn đề phức
tạp này có:
- phát
triển sự hợp tác hữu hiệu giữa nhân dân – chính phủ – quân đội;
- hy vọng
thiết lập một hình thức chính quyền đại diện, mà nhân dân và các thành phần
khác nhau trong dân chúng thực sự cảm thấy đại diện cho họ;
- và có
lẽ cần phát triển những kỹ năng chính trị của giới lãnh đạo, chẳng hạn như
biết khen thưởng đúng lúc, quan tâm đến đời sống của từng người, thông tin
đầy đủ cho dân chúng về tình hình quốc gia với sự nhấn mạnh vào những mặt
tích cực, v.v.
11. Làm cho người Việt Nam mạnh
lên
Tôi lo ngại về việc liệu tất cả viện trợ và những nỗ lực
của chúng ta tại đây sẽ làm cho người Việt Nam mạnh lên, hay chỉ khiến họ phụ
thuộc vào chúng ta nhiều hơn.
Chắc chắn không ai trong chúng ta, những người cuối cùng sẽ
phải giải trình các hành động của mình ở quê nhà, lại muốn đặt Hoa Kỳ vào tình
thế phải tiếp tục cung cấp sự trợ giúp lớn tại đây trong vô số năm, với lý do rằng
nếu viện trợ của chúng ta giảm đi thì đối phương sẽ thắng.
Chắc chắn những người Mỹ có trách nhiệm tại đây đều muốn thấy
người Việt Nam có đủ khả năng để ngày càng tự đảm nhận một phần lớn hơn những
gánh nặng của chính mình trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc gia.
12.
Vì vậy, tôi muốn thấy những nỗ lực của chúng ta tại đây được
gắn càng hoàn toàn càng tốt với phương châm hành động:
Giúp người Việt Nam tự giúp lấy mình.
Không chỉ là Chính phủ Việt Nam hay quân đội Việt Nam, mà
còn là chính người dân.
Điều này có nghĩa là phải đòi hỏi người Việt Nam sử dụng sự
trợ giúp của chúng ta rộng rãi và hữu hiệu hơn — đồng thời, về phía chúng ta,
có lẽ cũng phải chấp nhận những tiêu chuẩn khả thi của người Việt Nam thay vì
tiêu chuẩn của chính chúng ta ở mức độ nhiều hơn.
Điều đó sẽ làm tăng ý thức làm chủ đối với những gì được xây
dựng — dù đó là một sư đoàn quân đội hay một nông trại của cá nhân — phát triển
năng lực quốc gia và bắt đầu đem lại cho những người Việt Nam Tự do niềm tin
vào khả năng của chính mình, điều mà phía Việt Minh đã thể hiện rất đáng kể.
Tất cả những điều này đều là những yếu tố tạo nên sức mạnh
trong cuộc đấu tranh với Cộng sản.
Một điều cũng đúng là con người thường có khuynh hướng bảo vệ
những gì chính mình đã xây dựng; và chúng ta sẽ làm cho những người Việt Nam Tự
do mạnh hơn khi làm gia tăng quy mô hoặc số lượng những gì mà họ muốn bảo vệ khỏi
Cộng sản.
13. Sẵn lòng chấp nhận mọi rủi
ro vì tự do
Mao Trạch Đông từng diễn đạt rõ ràng một sự thật căn bản
trong loại hình đấu tranh mà hiện nay chúng ta đang tham gia tại đây khi nói:
“Nó [chiến tranh du kích] không thể tồn tại và phát triển một
khi bị tách khỏi nhân dân hoặc không thu hút được sự tham gia và hợp tác của quần
chúng rộng rãi.”
Việt Minh đã học rất kỹ bài học này, áp dụng nó trong chiến
tranh du kích quân sự trước khi đình chiến—
[Trang 7]
—và hiện đang áp dụng nó ở phía nam vĩ tuyến 17 trong chiến
tranh du kích chính trị của họ.
Thất bại của chúng ta là điều chắc chắn nếu chúng ta không học
và áp dụng chính bài học ấy của chiến tranh hiện đại, và phải làm điều đó hữu
hiệu hơn đối phương.
Chúng ta phải đối diện với thực tế rằng phía chúng ta đã “bị
tách khỏi nhân dân” tại quá nhiều khu vực mà hiện nay chúng ta phải giành lại.
Phương pháp để giành lại những khu vực ấy phải là thu hút sự
tham gia và hợp tác của người dân vào những điều mà những con người tự do chúng
ta thực hiện và trân trọng — không phải cưỡng ép, đe dọa hay bắt buộc, mà là
thu hút họ.
14.
Làm thế nào để chúng ta thu hút người dân về phía mình, giữ
họ ở lại và làm cho họ sẵn lòng, nếu cần, đánh đổi sinh mạng và tài sản vì tự
do?
Cách tiếp cận của chúng ta, cũng như của tất cả các lực lượng
và tổ chức đứng về phía chúng ta, phải là cách tiếp cận của những người bạn:
không phải những người giám sát hách dịch;
không phải những viên cảnh sát như được hình dung trong các
kế hoạch gọi là “bình định”, vốn chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm giai đoạn
1946–1953 tại đây;
không phải những diễn giả ăn mặc chỉnh tề chỉ xuất hiện chốc
lát trước những người “nông dân”;
và cũng không phải những người đem hàng loạt tài liệu lý luận
in sẵn phân phát cho những người không biết chữ.
15.
Nếu toàn bộ đội ngũ phía chúng ta tiếp cận người dân đúng
cách, chúng ta sẽ thực hiện được bước quan trọng đầu tiên để thu hút dân chúng
về phía mình.
Sau đó, chúng ta phải thuyết phục họ — và thành quả thực tế
là điều có sức thuyết phục nhất — rằng tương lai của chính họ, cũng như tương
lai của con cháu họ, sẽ tốt đẹp hơn dưới hệ thống của chúng ta so với dưới chế
độ Cộng sản: tốt đẹp hơn về chính trị hoặc xã hội, kinh tế và tinh thần.
Khi niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp như vậy được hình
thành trong dân chúng, đồng thời với hy vọng rằng tương lai ấy thực sự có thể đạt
được — trong đó bao gồm cả phương tiện quân sự để bảo vệ thành quả — thì sự
phân cách lớn đầu tiên giữa Cộng sản và đại bộ phận dân chúng sẽ bắt đầu xuất
hiện.
16.
Phần lớn chương trình mà ông đề ra ngay sau khi đến đây với
tư cách Đại sứ nhằm xây dựng và bảo vệ một tương lai tốt đẹp cho những người Việt
Nam Tự do.
Tuy nhiên, dường như còn thiếu một
phần thiết yếu:
Trao cho người dân một chính phủ
thực sự có tính đại diện.
Điều này phải được xây dựng chung quanh một hiến chương hoặc
hiến pháp, trong đó nói rõ người dân có chính phủ của chính mình như thế nào và
có một bản tuyên ngôn về các quyền.
Một quốc hội hay nghị hội quốc gia sẽ không đáp ứng được nhu
cầu cấp thiết này, trừ khi nó hướng tới việc soạn thảo và thông qua một bản hiến
pháp trong thời gian sớm nhất có thể.
Việt Minh đã vượt chúng ta trong việc vận dụng nguyên tắc quốc
gia căn bản này của chính chúng ta — một bằng chứng nữa về khả năng của đối
phương Việt Minh — và thậm chí còn làm chúng ta khó chịu hơn bằng cách sử dụng
rộng rãi những lời lẽ lấy từ Hiến pháp Hoa Kỳ.
Điểm mạnh của chúng ta là văn kiện của họ không thể thực hiện
được những gì mà hiến pháp của một dân tộc tự do có thể thực hiện; và chúng ta
càng sớm có một văn kiện như vậy thì càng sớm có thể bắt đầu làm cho dân chúng
thấy rõ điều đó.
Những rủi ro chính trị trong việc xây dựng một văn kiện như
vậy là đáng kể, nhưng những rủi ro ấy phải được chấp nhận và có thể được giảm
xuống mức tối thiểu bằng cách triển khai chiến thuật khéo léo.
17.
Song song với việc tiến nhanh nhất có thể tới một Hiến pháp,
những người Việt Nam Tự do phải nhanh chóng thiết lập chính quyền và những lợi
ích của chính quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam ở phía nam vĩ tuyến 17.
Đây là điều chúng ta gọi là “hành động quốc gia” (national
action), trong đó “bình định” quân sự là một bộ phận cấu thành.
Đó là cách tiếp cận người dân và là phương tiện đầu tiên để
tạo nên hy vọng trong họ, như đã nói ở đoạn 15.
Hiện nay, cả những hoạt động của Chính phủ Việt Nam về “hành
động quốc gia” lẫn những hoạt động của Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ chương trình ấy đều
chưa được phối hợp tốt.
Điều này đưa tôi đến lời đề nghị của mình.
18. Đề nghị
Tôi đề nghị ông tổ chức sự phối hợp các nỗ lực của toàn bộ đội
ngũ chúng ta trong lĩnh vực “hành động quốc gia”, bắt đầu từ đội ngũ Hoa Kỳ và
thông qua họ để phối hợp với người Việt Nam và người Pháp.
Với tư cách thành viên trong ban tham mưu riêng của ông, tôi
muốn dành phần lớn thời gian của mình, với tư cách phó, phụ tá hoặc nhân viên
tham mưu của ông, cho công việc phối hợp này.
Các sĩ quan làm việc cùng tôi có khả năng hỗ trợ hữu hiệu
trong lĩnh vực này.
Chúng tôi có thể tái lập những cuộc họp mà trước đây chúng
tôi đã tổ chức và vốn đã tạo được một khởi đầu tốt hướng tới một hoạt động khả
thi, phối hợp với tất cả các cơ quan Hoa Kỳ và Việt Nam có liên quan.
Lần này, nếu muốn, chúng ta có thể đưa cả phía Pháp vào.
19.
Cơ sở cho lời đề nghị của tôi là tôi tin rằng đây là cách
tôi có thể giúp ông nhiều nhất, và trong thời gian gần đây tôi đã có ba năm
kinh nghiệm trong một lĩnh vực tương tự, dưới những điều kiện tương tự.
Cả tôi lẫn các sĩ quan làm việc cùng tôi đều không tìm kiếm
thêm công việc, cũng không muốn cản trở hay làm giảm vai trò công việc của những
người khác.
Điều chúng tôi tìm kiếm là cơ hội đối diện trực tiếp và
nghiêm túc với một vấn đề hết sức cấp bách, đồng thời giúp những thành viên còn
lại của đội ngũ Hoa Kỳ thực hiện công việc của họ đối với vấn đề này.
Chúng tôi không thể làm điều đó nếu ông không giao nhiệm vụ
cho chúng tôi.
Ed
Edward G. Lansdale
Đại tá Không quân Hoa Kỳ
Chú thích
1. Nguồn: Collins Papers, Vietnam File, Series VII, L.
Secret (Mật).
2. Bên cạnh câu thứ hai và thứ ba của đoạn 7, Collins viết
tay bên lề:
“Tin đồn từ các nhà báo, dựa trên những câu chuyện trong các
buổi cocktail. C.”
Điều này cho thấy Collins không hoàn toàn chấp nhận nhận định
của Lansdale về những xung đột nguy hiểm trong nội bộ nhóm Hoa Kỳ.
3. Bên cạnh câu đầu đoạn 8 — nơi Lansdale nói sự phối hợp Mỹ–Pháp
“đã tiến triển tốt” — Collins viết tay rất ngắn:
“Không phải vậy. C.”
4. Bên cạnh đoạn 18, Collins viết tay:
“Đã chỉ định Lansdale phối hợp các phần chương trình của
chúng ta dưới sự chỉ đạo của Tướng O’Daniel. C.”
Như vậy, Collins đã chấp thuận về căn bản đề nghị của
Lansdale, nhưng đặt công việc của Lansdale dưới quyền chỉ đạo của Tướng
O’Daniel, chứ không trao cho Lansdale một quyền phối hợp độc lập.
FRUS
Document 2 — Lansdale → Collins, 03-01-1955
Tóm lược — Lansdale gửi Collins, 03-01-1955
Lansdale trình bày với Collins một chiến lược tổng thể để giữ
miền Nam Việt Nam, không chỉ bằng viện trợ và quân sự mà quan trọng hơn là xây
dựng sức mạnh của chính người Việt Nam.
Ông nêu ba điều kiện để thành công:
- Phối hợp
hữu hiệu giữa người Mỹ, với Pháp và đặc biệt với người Việt Nam. Lansdale
cảnh báo việc Mỹ–Pháp bí mật thỏa thuận trước rồi mới làm việc với Việt
Nam có thể lặp lại những sai lầm thời trước Genève.
- Làm
cho người Việt Nam mạnh lên, chứ không làm họ lệ thuộc lâu dài vào viện trợ
Mỹ. Phương châm của ông là “giúp người Việt Nam tự giúp lấy mình”, từ
chính phủ, quân đội đến người dân.
- Thu phục
dân chúng. Lansdale cho rằng không thể thắng nếu chính quyền bị tách khỏi
dân. Phải thu hút dân bằng thành quả thực tế, tự do và một tương lai tốt đẹp
hơn, chứ không bằng cưỡng ép hay chỉ dựa vào “bình định”.
Một điểm chính trị quan trọng là Lansdale cho rằng cần tiến
tới một chính quyền thực sự có tính đại diện, một Hiến pháp và các quyền của
người dân; đồng thời chính quyền phải hiện diện hữu hiệu trên toàn lãnh thổ
phía nam vĩ tuyến 17.
Cuối cùng, Lansdale xin Collins giao cho mình nhiệm vụ phối
hợp chương trình “national action” (hành động quốc gia). Collins đồng ý giao
Lansdale phối hợp một số phần của chương trình, nhưng đặt ông dưới sự chỉ đạo của
Tướng O’Daniel.
Đáng chú ý, những ghi chú viết tay của Collins cho thấy Collins
không hoàn toàn đồng ý với Lansdale, đặc biệt ông bác nhận định rằng sự phối hợp
Mỹ–Pháp “đã tiến triển tốt”.
Lansdale đề nghị Collins xây dựng một miền Nam đủ sức tự đứng vững bằng cách thống nhất nỗ lực Mỹ–Việt, làm người Việt Nam mạnh lên và giành được sự tự nguyện ủng hộ của dân chúng; viện trợ Mỹ phải giúp người Việt Nam tự lực chứ không tạo sự lệ thuộc.