Trang

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

6733. 03-01-1955 Thư Lansdale gửi Collins: “Ván bài Việt Nam” và những “quân bài” Hoa Kỳ đang nắm giữ (19bis)

Lansdale trình bày với Collins một chiến lược tổng thể để giữ miền Nam Việt Nam hay “Ván bài Việt Nam” và những “quân bài” Hoa Kỳ đang nắm giữ. Lansdale đề nghị Collins xây dựng một miền Nam đủ sức tự đứng vững bằng cách thống nhất nỗ lực Mỹ–Việt, làm người Việt Nam mạnh lên và giành được sự tự nguyện ủng hộ của dân chúng; viện trợ Mỹ phải giúp người Việt Nam tự lực chứ không tạo sự lệ thuộc.

 - Đại tá Edward G. Lansdale — sĩ quan Không quân Hoa Kỳ, chuyên về hoạt động chính trị–tâm lý và hoạt động bí mật, có quan hệ mật thiết với CIA.

- Trong bối cảnh đầu năm 1955, Tướng John W. “Iron Mike” O’DanielTrưởng Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Đông Dương (Chief, MAAG Indochina). Nhiệm vụ chính của ông là phụ trách phía quân sự: tổ chức, cố vấn và huấn luyện Quân đội Quốc gia Việt Nam, đồng thời triển khai chương trình quân sự mà Collins và Tướng Ely đã thỏa thuận.

Link nguồn:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d2?utm_source=chatgpt.com

GPT DỊCH

 

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1955–1957, Việt Nam, Tập I

2. Bản ghi nhớ của Trưởng Ban An ninh Quốc gia, Phái bộ Huấn luyện Quan hệ (Lansdale) gửi Đặc sứ tại Việt Nam (Collins)

Sài Gòn, ngày 3 tháng 1 năm 1955


1.

Đây là một vài suy nghĩ đầu năm mới về vấn đề mà ông và chúng tôi đang phải đối diện, cùng với một lời đề nghị.

2.

Trước hết, đáng để xem xét giá trị thực sự của những quân bài mà Tổng thống Eisenhower đã trao cho ông trong ván bài mà chúng ta đang chơi ở đây.

Những quân bài ấy chính là viện trợ trực tiếp của chúng ta dành cho người Việt Nam. Đối với phần lớn người Mỹ, điều đó có nghĩa là tiền bạc, vật tư và nhân lực kỹ thuật (cố vấn).

Nhưng trong con mắt của thế giới, và đặc biệt là châu Á, nó còn mang một ý nghĩa lớn hơn. Nhìn theo cách này, giá trị của những quân bài ấy trở thành chính châu Á và một phần Trung Đông.

[Trang 4]

3.

Theo cách nhìn của người châu Á, “viện trợ trực tiếp” có nghĩa là Hoa Kỳ, kẻ thù mạnh nhất của chủ nghĩa Cộng sản, hiện đang trực tiếp hậu thuẫn những người Việt Nam Tự do chống lại Cộng sản.

Chắc chắn mỗi quốc gia tự do có hiệp ước với Hoa Kỳ, trong đó chúng ta cam kết hỗ trợ chặt chẽ họ chống lại Cộng sản, đều nhìn thấy một phần hoàn cảnh của chính mình trong hoàn cảnh của người Việt Nam.

Và mỗi quốc gia ấy, ở những mức độ khác nhau, sẽ xem xét sự hỗ trợ của chúng ta thực sự có ý nghĩa như thế nào.

Do đó, nếu chúng ta thất bại ở đây hoặc rút lui, dù có rút lui một cách khéo léo đến đâu, những nhân vật có ảnh hưởng chính trị tại các quốc gia ấy sẽ nhìn hành động của chúng ta để suy đoán tương lai của chính họ.

Điều này có nghĩa là những người chủ trương làm ăn với Trung Quốc ở Nhật Bản, những người chống các căn cứ Mỹ ở Philippines, v.v., sẽ thấy lập luận của họ được củng cố ngay trong nước, đến mức gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho Hoa Kỳ tại những nơi mà hiện nay chúng ta vốn đã phải đối phó với áp lực chính trị của phe trung lập và Cộng sản.

Điều này còn vượt xa nhận xét thông thường rằng việc mất Việt Nam sẽ mở cửa Đông Nam Á cho sức năng động của Cộng sản — mà bản thân điều đó đã đủ nguy hiểm.

4.

Vì vậy, tôi cảm thấy rằng chúng ta có quá nhiều thứ để mất nên không thể nghĩ đến chuyện thất bại hoặc rút lui.

Chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải thắng ở đây, nếu không sẽ phải đối diện với một tương lai ngày càng u ám — một di sản mà không ai trong chúng ta muốn để lại cho con cháu.

5.

Muốn thắng thì cần những gì?

Sẽ cần tất cả những gì chúng ta hiện đang làm và dự định làm, cộng thêm nhiều hơn nữa — và tôi tin rằng cái “nhiều hơn nữa” ấy hiện đã tồn tại ở đây dưới dạng một tiềm năng, chỉ đang chờ được sử dụng đúng cách.

6.

Tôi đã thu hẹp những yếu tố mà chúng ta cần để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh hiện nay tại đây xuống còn ba yếu tố, dù cách nhìn này có lẽ hơi đơn giản hóa vấn đề.

Tôi tin rằng nếu chúng ta có thể biến ba yếu tố này thành hiện thực tại đây, thế chủ động sẽ chuyển sang phía chúng ta và chúng ta sẽ bắt đầu giành thắng lợi.

Hơn nữa, tôi cho rằng đến tháng 6-1955, chúng ta phải có bằng chứng rõ ràng cho thấy mình có thể biến ba yếu tố ấy thành hiện thực.

Ba yếu tố đó là:

a. Làm việc phối hợp thành công.

b. Làm cho những người Việt Nam Tự do mạnh lên.

c. Làm cho đại bộ phận dân chúng sẵn lòng chấp nhận mọi rủi ro vì tự do.

7. Làm việc phối hợp thành công

Đối phương đang đạt được thành công đáng kể trong việc phối hợp: giữa những người Việt Minh với nhau, giữa Việt Minh với dân chúng ủng hộ họ, và giữa các cố vấn Trung Quốc với Việt Minh.

Chúng ta còn phải đi một quãng đường nữa mới có thể đạt được mức phối hợp như vậy, ngay cả giữa chính những người Mỹ chúng ta ở đây, vì nhiều lý do — trong đó có việc kiểu kỷ luật của chúng ta phát triển chậm hơn so với “kỷ luật sắt” của Cộng sản.

[Trang 5]

Những quan sát viên thân thiện và có năng lực đã nói với tôi về những sự va chạm nguy hiểm đang tồn tại giữa các thành viên chủ chốt của nhóm Hoa Kỳ tại đây.

Có lẽ nguyên nhân căn bản của những sự va chạm ấy là chúng ta vẫn chưa thống nhất chính xác về:

  • Hoa Kỳ muốn đạt được điều gì tại đây, bất kể phải chấp nhận những rủi ro nào;
  • chính xác phải làm thế nào để đạt được kết quả đó;
  • và chính xác ai sẽ đảm nhận từng phần cụ thể của toàn bộ nhiệm vụ.

Nguyên nhân căn bản này chắc chắn còn bị làm trầm trọng thêm bởi những bất đồng cá nhân nảy sinh từ áp lực mà tất cả chúng ta phải chịu trong khi cố gắng hết sức giải quyết các vấn đề tại đây.

Phần lớn những va chạm này có thể được giảm bớt thông qua những cơ chế mà ông đã thiết lập.

8.

Sự phối hợp của chúng ta với người Pháp, với tư cách những người phương Tây cùng hoạt động tại một khu vực châu Á, đã tiến triển tốt mặc dù gặp nhiều trở ngại.

Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp này ngày càng phát triển thành một kiểu dàn xếp làm việc ba bên nhưng kín đáo: chúng ta đưa một phần đáng kể quan điểm của Pháp vào các kế hoạch và lời khuyên của mình.

Điều này khác với cách làm việc song phương mà ban đầu ông đã mô tả và cũng là chính sách công khai của chúng ta: chúng ta thông báo cho người Pháp về ý định của mình, rồi sau đó trực tiếp làm việc với người Việt Nam.

Cách làm hiện nay có thể dẫn đến việc lặp lại trong tất cả các lĩnh vực quan trọng những sai lầm đã góp phần làm suy yếu vị thế của thế giới tự do tại đây trước Genève, bởi nó dẫn đến việc áp dụng những phương pháp tạo ra những mục tiêu rất thuận lợi cho Cộng sản trong việc phát động cuộc “kháng chiến trường kỳ của toàn dân” của họ.

Theo tôi, chúng ta không được công khai giúp mở rộng ảnh hưởng của Pháp sang những lĩnh vực mà hiện nay Pháp không còn ảnh hưởng.

Chúng ta phải kiên định với những nguyên tắc của chính mình — những nguyên tắc đã tạo nên sức mạnh cho chúng ta — trong khi vẫn là một đồng minh thân thiện.

Có lẽ một số trở ngại trong sự phối hợp với người Pháp có thể được khắc phục nếu xây dựng được một cơ chế nhằm vô hiệu hóa những tin đồn đang lan truyền trong giới Pháp về ý định của Hoa Kỳ tại đây.

9.

Rất nhiều suy nghĩ và công sức đã được dành cho việc phối hợp giữa chúng ta với người Việt Nam.

Tuy nhiên, phía chúng ta dường như vẫn còn một số nhầm lẫn giữa sự thiên vị phe phái và những mục tiêu mong muốn, giữa khả năng của người Việt Nam và những phương pháp có hiệu quả nhất để làm việc với họ.

Dường như đang xuất hiện sự nghi ngờ ngày càng tăng đối với thiện chí của chúng ta và khả năng của chúng ta trong việc giúp đỡ một cách thành công. Nếu sự nghi ngờ ấy tiếp tục phát triển mà không được kiểm soát, nó có thể gây nguy hiểm cho toàn bộ nỗ lực của chúng ta tại đây.

Việc tăng cường những mối tiếp xúc cá nhân ở mọi cấp trong nhóm Hoa Kỳ với từng người Việt Nam, trên cơ sở bình đẳng, cùng với việc kiên nhẫn giải thích lý do của những yêu cầu hoặc lời khuyên, sẽ giúp ích.

Chúng ta phải duy trì và mở rộng tình hữu nghị của mình với người Việt Nam—

[Trang 6]

—để viện trợ của chúng ta thực sự mang lại kết quả; bởi hiện nay chúng ta được xem là người bạn chân thành và mạnh mẽ duy nhất của Việt Nam (ngoài Trung Quốc và Liên Xô), và có lẽ chúng ta là chất xúc tác duy nhất có thể thúc đẩy những người Việt Nam đứng về phía chúng ta đoàn kết lại với nhau.

10.

Sự phối hợp giữa những người Việt Nam Tự do với nhau tiến triển chậm.

Vẫn còn quá nhiều tinh thần phe phái, sự ngờ vực và lòng đố kỵ gây cản trở.

Trong số những biện pháp quan trọng để giải quyết vấn đề phức tạp này có:

  • phát triển sự hợp tác hữu hiệu giữa nhân dân – chính phủ – quân đội;
  • hy vọng thiết lập một hình thức chính quyền đại diện, mà nhân dân và các thành phần khác nhau trong dân chúng thực sự cảm thấy đại diện cho họ;
  • và có lẽ cần phát triển những kỹ năng chính trị của giới lãnh đạo, chẳng hạn như biết khen thưởng đúng lúc, quan tâm đến đời sống của từng người, thông tin đầy đủ cho dân chúng về tình hình quốc gia với sự nhấn mạnh vào những mặt tích cực, v.v.

 

11. Làm cho người Việt Nam mạnh lên

Tôi lo ngại về việc liệu tất cả viện trợ và những nỗ lực của chúng ta tại đây sẽ làm cho người Việt Nam mạnh lên, hay chỉ khiến họ phụ thuộc vào chúng ta nhiều hơn.

Chắc chắn không ai trong chúng ta, những người cuối cùng sẽ phải giải trình các hành động của mình ở quê nhà, lại muốn đặt Hoa Kỳ vào tình thế phải tiếp tục cung cấp sự trợ giúp lớn tại đây trong vô số năm, với lý do rằng nếu viện trợ của chúng ta giảm đi thì đối phương sẽ thắng.

Chắc chắn những người Mỹ có trách nhiệm tại đây đều muốn thấy người Việt Nam có đủ khả năng để ngày càng tự đảm nhận một phần lớn hơn những gánh nặng của chính mình trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc gia.

12.

Vì vậy, tôi muốn thấy những nỗ lực của chúng ta tại đây được gắn càng hoàn toàn càng tốt với phương châm hành động:

Giúp người Việt Nam tự giúp lấy mình.

Không chỉ là Chính phủ Việt Nam hay quân đội Việt Nam, mà còn là chính người dân.

Điều này có nghĩa là phải đòi hỏi người Việt Nam sử dụng sự trợ giúp của chúng ta rộng rãi và hữu hiệu hơn — đồng thời, về phía chúng ta, có lẽ cũng phải chấp nhận những tiêu chuẩn khả thi của người Việt Nam thay vì tiêu chuẩn của chính chúng ta ở mức độ nhiều hơn.

Điều đó sẽ làm tăng ý thức làm chủ đối với những gì được xây dựng — dù đó là một sư đoàn quân đội hay một nông trại của cá nhân — phát triển năng lực quốc gia và bắt đầu đem lại cho những người Việt Nam Tự do niềm tin vào khả năng của chính mình, điều mà phía Việt Minh đã thể hiện rất đáng kể.

Tất cả những điều này đều là những yếu tố tạo nên sức mạnh trong cuộc đấu tranh với Cộng sản.

Một điều cũng đúng là con người thường có khuynh hướng bảo vệ những gì chính mình đã xây dựng; và chúng ta sẽ làm cho những người Việt Nam Tự do mạnh hơn khi làm gia tăng quy mô hoặc số lượng những gì mà họ muốn bảo vệ khỏi Cộng sản.

13. Sẵn lòng chấp nhận mọi rủi ro vì tự do

Mao Trạch Đông từng diễn đạt rõ ràng một sự thật căn bản trong loại hình đấu tranh mà hiện nay chúng ta đang tham gia tại đây khi nói:

“Nó [chiến tranh du kích] không thể tồn tại và phát triển một khi bị tách khỏi nhân dân hoặc không thu hút được sự tham gia và hợp tác của quần chúng rộng rãi.”

Việt Minh đã học rất kỹ bài học này, áp dụng nó trong chiến tranh du kích quân sự trước khi đình chiến—

[Trang 7]

—và hiện đang áp dụng nó ở phía nam vĩ tuyến 17 trong chiến tranh du kích chính trị của họ.

Thất bại của chúng ta là điều chắc chắn nếu chúng ta không học và áp dụng chính bài học ấy của chiến tranh hiện đại, và phải làm điều đó hữu hiệu hơn đối phương.

Chúng ta phải đối diện với thực tế rằng phía chúng ta đã “bị tách khỏi nhân dân” tại quá nhiều khu vực mà hiện nay chúng ta phải giành lại.

Phương pháp để giành lại những khu vực ấy phải là thu hút sự tham gia và hợp tác của người dân vào những điều mà những con người tự do chúng ta thực hiện và trân trọng — không phải cưỡng ép, đe dọa hay bắt buộc, mà là thu hút họ.

14.

Làm thế nào để chúng ta thu hút người dân về phía mình, giữ họ ở lại và làm cho họ sẵn lòng, nếu cần, đánh đổi sinh mạng và tài sản vì tự do?

Cách tiếp cận của chúng ta, cũng như của tất cả các lực lượng và tổ chức đứng về phía chúng ta, phải là cách tiếp cận của những người bạn:

không phải những người giám sát hách dịch;

không phải những viên cảnh sát như được hình dung trong các kế hoạch gọi là “bình định”, vốn chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm giai đoạn 1946–1953 tại đây;

không phải những diễn giả ăn mặc chỉnh tề chỉ xuất hiện chốc lát trước những người “nông dân”;

và cũng không phải những người đem hàng loạt tài liệu lý luận in sẵn phân phát cho những người không biết chữ.

15.

Nếu toàn bộ đội ngũ phía chúng ta tiếp cận người dân đúng cách, chúng ta sẽ thực hiện được bước quan trọng đầu tiên để thu hút dân chúng về phía mình.

Sau đó, chúng ta phải thuyết phục họ — và thành quả thực tế là điều có sức thuyết phục nhất — rằng tương lai của chính họ, cũng như tương lai của con cháu họ, sẽ tốt đẹp hơn dưới hệ thống của chúng ta so với dưới chế độ Cộng sản: tốt đẹp hơn về chính trị hoặc xã hội, kinh tế và tinh thần.

Khi niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp như vậy được hình thành trong dân chúng, đồng thời với hy vọng rằng tương lai ấy thực sự có thể đạt được — trong đó bao gồm cả phương tiện quân sự để bảo vệ thành quả — thì sự phân cách lớn đầu tiên giữa Cộng sản và đại bộ phận dân chúng sẽ bắt đầu xuất hiện.

16.

Phần lớn chương trình mà ông đề ra ngay sau khi đến đây với tư cách Đại sứ nhằm xây dựng và bảo vệ một tương lai tốt đẹp cho những người Việt Nam Tự do.

Tuy nhiên, dường như còn thiếu một phần thiết yếu:

Trao cho người dân một chính phủ thực sự có tính đại diện.

Điều này phải được xây dựng chung quanh một hiến chương hoặc hiến pháp, trong đó nói rõ người dân có chính phủ của chính mình như thế nào và có một bản tuyên ngôn về các quyền.

Một quốc hội hay nghị hội quốc gia sẽ không đáp ứng được nhu cầu cấp thiết này, trừ khi nó hướng tới việc soạn thảo và thông qua một bản hiến pháp trong thời gian sớm nhất có thể.

Việt Minh đã vượt chúng ta trong việc vận dụng nguyên tắc quốc gia căn bản này của chính chúng ta — một bằng chứng nữa về khả năng của đối phương Việt Minh — và thậm chí còn làm chúng ta khó chịu hơn bằng cách sử dụng rộng rãi những lời lẽ lấy từ Hiến pháp Hoa Kỳ.

Điểm mạnh của chúng ta là văn kiện của họ không thể thực hiện được những gì mà hiến pháp của một dân tộc tự do có thể thực hiện; và chúng ta càng sớm có một văn kiện như vậy thì càng sớm có thể bắt đầu làm cho dân chúng thấy rõ điều đó.

Những rủi ro chính trị trong việc xây dựng một văn kiện như vậy là đáng kể, nhưng những rủi ro ấy phải được chấp nhận và có thể được giảm xuống mức tối thiểu bằng cách triển khai chiến thuật khéo léo.

17.

Song song với việc tiến nhanh nhất có thể tới một Hiến pháp, những người Việt Nam Tự do phải nhanh chóng thiết lập chính quyền và những lợi ích của chính quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam ở phía nam vĩ tuyến 17.

Đây là điều chúng ta gọi là “hành động quốc gia” (national action), trong đó “bình định” quân sự là một bộ phận cấu thành.

Đó là cách tiếp cận người dân và là phương tiện đầu tiên để tạo nên hy vọng trong họ, như đã nói ở đoạn 15.

Hiện nay, cả những hoạt động của Chính phủ Việt Nam về “hành động quốc gia” lẫn những hoạt động của Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ chương trình ấy đều chưa được phối hợp tốt.

Điều này đưa tôi đến lời đề nghị của mình.

18. Đề nghị

Tôi đề nghị ông tổ chức sự phối hợp các nỗ lực của toàn bộ đội ngũ chúng ta trong lĩnh vực “hành động quốc gia”, bắt đầu từ đội ngũ Hoa Kỳ và thông qua họ để phối hợp với người Việt Nam và người Pháp.

Với tư cách thành viên trong ban tham mưu riêng của ông, tôi muốn dành phần lớn thời gian của mình, với tư cách phó, phụ tá hoặc nhân viên tham mưu của ông, cho công việc phối hợp này.

Các sĩ quan làm việc cùng tôi có khả năng hỗ trợ hữu hiệu trong lĩnh vực này.

Chúng tôi có thể tái lập những cuộc họp mà trước đây chúng tôi đã tổ chức và vốn đã tạo được một khởi đầu tốt hướng tới một hoạt động khả thi, phối hợp với tất cả các cơ quan Hoa Kỳ và Việt Nam có liên quan.

Lần này, nếu muốn, chúng ta có thể đưa cả phía Pháp vào.

19.

Cơ sở cho lời đề nghị của tôi là tôi tin rằng đây là cách tôi có thể giúp ông nhiều nhất, và trong thời gian gần đây tôi đã có ba năm kinh nghiệm trong một lĩnh vực tương tự, dưới những điều kiện tương tự.

Cả tôi lẫn các sĩ quan làm việc cùng tôi đều không tìm kiếm thêm công việc, cũng không muốn cản trở hay làm giảm vai trò công việc của những người khác.

Điều chúng tôi tìm kiếm là cơ hội đối diện trực tiếp và nghiêm túc với một vấn đề hết sức cấp bách, đồng thời giúp những thành viên còn lại của đội ngũ Hoa Kỳ thực hiện công việc của họ đối với vấn đề này.

Chúng tôi không thể làm điều đó nếu ông không giao nhiệm vụ cho chúng tôi.

Ed
Edward G. Lansdale
Đại tá Không quân Hoa Kỳ


Chú thích

1. Nguồn: Collins Papers, Vietnam File, Series VII, L. Secret (Mật).

2. Bên cạnh câu thứ hai và thứ ba của đoạn 7, Collins viết tay bên lề:

“Tin đồn từ các nhà báo, dựa trên những câu chuyện trong các buổi cocktail. C.”

Điều này cho thấy Collins không hoàn toàn chấp nhận nhận định của Lansdale về những xung đột nguy hiểm trong nội bộ nhóm Hoa Kỳ.

3. Bên cạnh câu đầu đoạn 8 — nơi Lansdale nói sự phối hợp Mỹ–Pháp “đã tiến triển tốt” — Collins viết tay rất ngắn:

“Không phải vậy. C.”

4. Bên cạnh đoạn 18, Collins viết tay:

“Đã chỉ định Lansdale phối hợp các phần chương trình của chúng ta dưới sự chỉ đạo của Tướng O’Daniel. C.”

Như vậy, Collins đã chấp thuận về căn bản đề nghị của Lansdale, nhưng đặt công việc của Lansdale dưới quyền chỉ đạo của Tướng O’Daniel, chứ không trao cho Lansdale một quyền phối hợp độc lập.

FRUS Document 2 — Lansdale → Collins, 03-01-1955

 Hết dịch nguyên văn.


Tóm lược — Lansdale gửi Collins, 03-01-1955

Lansdale trình bày với Collins một chiến lược tổng thể để giữ miền Nam Việt Nam, không chỉ bằng viện trợ và quân sự mà quan trọng hơn là xây dựng sức mạnh của chính người Việt Nam.

Ông nêu ba điều kiện để thành công:

  1. Phối hợp hữu hiệu giữa người Mỹ, với Pháp và đặc biệt với người Việt Nam. Lansdale cảnh báo việc Mỹ–Pháp bí mật thỏa thuận trước rồi mới làm việc với Việt Nam có thể lặp lại những sai lầm thời trước Genève.
  2. Làm cho người Việt Nam mạnh lên, chứ không làm họ lệ thuộc lâu dài vào viện trợ Mỹ. Phương châm của ông là “giúp người Việt Nam tự giúp lấy mình”, từ chính phủ, quân đội đến người dân.
  3. Thu phục dân chúng. Lansdale cho rằng không thể thắng nếu chính quyền bị tách khỏi dân. Phải thu hút dân bằng thành quả thực tế, tự do và một tương lai tốt đẹp hơn, chứ không bằng cưỡng ép hay chỉ dựa vào “bình định”.

Một điểm chính trị quan trọng là Lansdale cho rằng cần tiến tới một chính quyền thực sự có tính đại diện, một Hiến pháp và các quyền của người dân; đồng thời chính quyền phải hiện diện hữu hiệu trên toàn lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17.

Cuối cùng, Lansdale xin Collins giao cho mình nhiệm vụ phối hợp chương trình “national action” (hành động quốc gia). Collins đồng ý giao Lansdale phối hợp một số phần của chương trình, nhưng đặt ông dưới sự chỉ đạo của Tướng O’Daniel.

Đáng chú ý, những ghi chú viết tay của Collins cho thấy Collins không hoàn toàn đồng ý với Lansdale, đặc biệt ông bác nhận định rằng sự phối hợp Mỹ–Pháp “đã tiến triển tốt”.

Lansdale đề nghị Collins xây dựng một miền Nam đủ sức tự đứng vững bằng cách thống nhất nỗ lực Mỹ–Việt, làm người Việt Nam mạnh lên và giành được sự tự nguyện ủng hộ của dân chúng; viện trợ Mỹ phải giúp người Việt Nam tự lực chứ không tạo sự lệ thuộc.