Trang

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

6738. 08-01-1955 (C): Điện văn của Collins về chuyến đi Đà Lạt. (Chương trình viện trợ chung cho ba Quốc gia Việt Miên Lào) (21)

 Collins muốn giảm mạnh quân số, kiểm soát chặt chi phí và xây dựng một quân đội Quốc gia Việt Nam nhỏ hơn nhưng có khả năng tự bảo đảm an ninh.

21TL

Link nguyên văn

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d12?utm_source=chatgpt.com

GPT DỊCH

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1955–1957, Việt Nam, Tập I

Văn kiện số 12. Điện văn của Đại diện Đặc biệt tại Việt Nam (Collins), Đại sứ tại Campuchia (McClintock) và Đại sứ tại Lào (Yost) gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

Sài Gòn, ngày 8-1-1955 — 1 giờ chiều


Số 2636. Tham chiếu:
A. Điện văn Bộ Ngoại giao số 2130;
B. Điện văn Bộ Ngoại giao số 2477.

1. Theo đề nghị trong điện văn tham chiếu A, và xét đến cuộc duyệt xét sắp tới của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC)Ban Điều phối Hoạt động (OCB) về các chính sách và hoạt động của Hoa Kỳ tại các Quốc gia Liên kết, như đã nói trong điện văn tham chiếu B, chúng tôi đã họp ngày 7-1-1955 để duyệt xét tổng quát tình hình trong phạm vi trách nhiệm của mỗi người.

2. Chúng tôi đã thảo luận xem loại đánh giá chung nào vừa khả thi đối với chúng tôi, vừa hữu ích nhất cho Chính phủ Hoa Kỳ, và đi đến những kết luận sau đây:

a. Chúng tôi đồng ý rằng không nên tự mình cố gắng đưa ra một bản ước định chiến lược về tình hình quân sự ảnh hưởng đến các Quốc gia Liên kết, vì đây đúng ra là chức năng của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS); công việc ấy đòi hỏi những tin tức và sự hỗ trợ tham mưu mà chúng tôi không có tại đây, đồng thời phải được tiến hành trong một khuôn khổ rộng lớn hơn phạm vi của riêng các Quốc gia Liên kết.

b. Chúng tôi cho rằng Chính phủ Hoa Kỳ cũng nhận thức như chúng tôi về tầm quan trọng của việc ngăn chặn các Quốc gia Liên kết rơi sâu hơn nữa dưới sự thống trị của cộng sản. Chúng tôi tiếp tục tin rằng Hoa Kỳ cần nỗ lực hướng đến mục tiêu này trong các lĩnh vực viện trợ quân sự, kinh tế, ngoại giao và các hình thức viện trợ khác.

Căn cứ vào điều kiện địa phương, mỗi người chúng tôi đều đã báo cáo về triển vọng thành công của sự viện trợ Hoa Kỳ trong việc giúp các quốc gia này chống lại những bước tiến xa hơn của cộng sản. Những đánh giá ấy khác nhau tùy theo từng quốc gia; tuy nhiên, chúng tôi vẫn tin rằng triển vọng thành công đủ để biện minh cho những nỗ lực của Hoa Kỳ.

Vì việc Hoa Kỳ hoàn toàn rút lại sự hỗ trợ là điều không thể chấp nhận được, nên theo chúng tôi, vấn đề không phải là Hoa Kỳ có nên viện trợ hay không, mà là nên cung cấp bao nhiêu viện trợ.

c. Về số lượng viện trợ Hoa Kỳ có thể được biện minh cho từng quốc gia — có xét đến triển vọng thành công tại mỗi nước — đây là vấn đề mà chúng tôi chỉ có thể đánh giá được một phần.

Mỗi người chúng tôi đều đã đề nghị các chương trình viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ dành cho quốc gia thuộc trách nhiệm của mình. Khi xác định quy mô của những chương trình này, chúng tôi phải cân nhắc sự kết hợp của các yếu tố sau:

  1. Nhu cầu thành lập những lực lượng quân sự bản xứ có khả năng bảo đảm ít nhất một mức an ninh tối thiểu;
  2. Khả năng các chương trình ấy được giới chức chính trị tại mỗi quốc gia chấp nhận;
  3. Mức viện trợ bằng đô-la mà nền kinh tế địa phương có thể hấp thụ mà không gây ra những mất cân đối nghiêm trọng;
  4. Nhu cầu đạt được kết quả tối đa với mức chi tiêu ngân quỹ Hoa Kỳ tối thiểu.

Các yếu tố này có khuynh hướng không tương hợp với nhau. Vì vậy, những chương trình được đề nghị, trong trường hợp tốt nhất, chỉ là sự cân bằng giữa các mục tiêu có phần mâu thuẫn.

Xét theo những yếu tố nói trên như chúng đang tồn tại tại mỗi quốc gia, các chương trình mà chúng tôi đề nghị chính là phần đóng góp mà chúng tôi — những người đang có mặt tại chỗ — có đủ khả năng chuyên môn để đưa ra.

Chúng tôi nhận thấy mình không thể đánh giá một cách đúng đắn liệu chi phí của các chương trình do chúng tôi đề nghị có tương xứng với những chương trình khác tại Viễn Đông — vốn cũng đang cạnh tranh để sử dụng nguồn ngân quỹ Hoa Kỳ hiện có — hay không; và do đó, cũng không thể xác định liệu tổng chi phí dành cho ba Quốc gia Liên kết có phải là sự phân bổ hợp lý nguồn ngân quỹ hiện có hay không.

Tuy nhiên, theo ý kiến của chúng tôi, những con số ước tính trình bày dưới đây là mức tối thiểu.

3. Với những điều nói trên, chúng tôi kết luận rằng chức năng hữu ích nhất mà chúng tôi có thể thực hiện vào lúc này nhằm hỗ trợ cuộc duyệt xét chính sách sắp tới là trình bày, bằng những nét tổng quát và dưới hình thức tổng hợp, toàn bộ các chương trình viện trợ mà chúng tôi đang đề nghị.

Dưới đây là những ước tính chi phí cho hai thời kỳ khác nhau:

  • Tài khóa 1956 (FY 1956);
  • Dương lịch 1955 (CY 1955).

Các con số của Tài khóa 1956 thể hiện chi phí ước tính của những chương trình mà chúng tôi đề nghị, và do đó cũng là số ngân khoản cần được Quốc hội chuẩn chi để tài trợ cho các chương trình ấy.

Các con số của Dương lịch 1955 thể hiện chi phí ước tính sẽ phát sinh trong năm dương lịch này nếu những chương trình được đề nghị cho Tài khóa 1956 được chấp thuận.

Có lẽ các chi phí trong Dương lịch 1955 nói chung sẽ được thanh toán từ những ngân khoản đã được chuẩn chi. Nếu tiếp tục áp dụng thủ tục trước đây, ngân khoản quân sự của Tài khóa 1955 sẽ được sử dụng để tài trợ cho các khoản chi tiêu trong nửa cuối năm dương lịch.

Do đó, cần lưu ý rằng các con số được nêu cho những chương trình tương ứng trong hai thời kỳ này có phần trùng lặp với nhau.

Các con số tính bằng triệu đô-la.

Ước tính cho Tài khóa 1956

Khoản mục

Việt Nam

Campuchia

Lào

Tổng cộng

Lực lượng vũ trang

225

44

40–45

309–314

Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC)

50

50

Kinh tế và người tị nạn

80

25

18

123

Tổng chi phí

335

69

58–63

482–487

Chính phủ địa phương đóng góp

–30

–14

–44

Tổng chi phí của Hoa Kỳ

325

55

58–63

438–443

Ước tính cho Dương lịch 1955

Khoản mục

Việt Nam: 6 tháng đầu

Việt Nam: 6 tháng cuối

Campuchia: 6 tháng đầu

Campuchia: 6 tháng cuối

Lào: 6 tháng đầu

Lào: 6 tháng cuối

Tổng: 6 tháng đầu

Tổng: 6 tháng cuối

Lực lượng vũ trang

164

126,5

22

22

24–26,5

20–22,5

210–212,5

168,5–171

Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC)

50

50

50

50

Kinh tế và người tị nạn

40

40

12,5

12,5

9

9

61,5

61,5

Tổng cộng

254

216,5

34,5

34,5

33–35,5

29–31,5

321,5–324

280–282,5

Đóng góp của địa phương

–15

–15

–7

–7

–22

–22

Chi phí của Hoa Kỳ

239

201,5

27,5

27,5

33–35,5

29–31,5

299,5–302

258–260,5

Tổng chi phí của Hoa Kỳ:

  • Việt Nam: 440,5 triệu đô-la;
  • Campuchia: 55 triệu đô-la;
  • Lào: 62–67 triệu đô-la;
  • Tổng cộng dành cho ba quốc gia: 557,5–562,5 triệu đô-la;
  • Trong số đó, 100 triệu đô-la dành cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC).

 

4. Nhận xét về các bảng số liệu

a. Việt Nam

(1)

Trong phần Tài khóa 1956, khoản viện trợ 50 triệu đô-la dành cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC) chỉ được dự liệu cho đến hết Dương lịch 1955.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, quan điểm hiện nay của Washington là Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục hỗ trợ FEC sau khi năm nay kết thúc. Tuy nhiên, hoàn cảnh có thể đòi hỏi phải tiếp tục hỗ trợ thêm một phần trong Dương lịch 1956, ít nhất là cho đến sau ngày đã được dự định tổ chức tuyển cử.

(2)

Mặc dù ban đầu Việt Nam được ước tính có khả năng đóng góp 43 triệu đô-la từ nguồn ngân quỹ của mình, chúng tôi cho rằng còn có những chi phí hoạt động chưa được dự liệu, chẳng hạn như:

  • Tái định cư những quân nhân giải ngũ theo chương trình giảm quân số;
  • Thành lập các chính quyền địa phương tại những vùng được thu hồi từ Việt Minh.

Vì vậy, khoản đóng góp 30 triệu đô-la của phía Việt Nam được xem là một mức ước tính an toàn.

(3)

Khoản 225 triệu đô-la dành cho Lực lượng vũ trang vượt quá con số 200 triệu đô-la đã được ước tính trước đây, nhằm giúp Chính phủ có thêm thời gian để kéo dài việc giảm quân số trong Dương lịch 1955.

Vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết trong một điện văn riêng của Collins.[5]

b. Campuchia

Chi phí đã được điều chỉnh dành cho việc trực tiếp yểm trợ quân đội được tính trên cơ sở quân số đề nghị đã giảm xuống còn 30.100 quân nhân và 1.500 nhân viên dân sự.

Cơ cấu lực lượng vẫn giữ nguyên như đã được đề nghị trước đây trong điện văn số 352 của Phnom Penh gửi Bộ Ngoại giao,[6] nhưng quy mô của các đơn vị được thu nhỏ.

Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ (MAAG) đang đệ trình một cơ cấu lực lượng mới trong một điện văn riêng, với sự đồng thuận của Đại sứ McClintock.

Chi phí 44 triệu đô-la có thể được giảm thêm nếu Chính phủ Campuchia đồng ý hạ mức lương của quân đội.

Con số dành cho Tài khóa 1956 có thể thấp hơn con số của Dương lịch 1955 nếu mức lương của những tân binh mới tuyển thấp hơn một cách đáng kể.

c. Lào

Chi phí ước tính dành cho lực lượng vũ trang Lào được để ở mức linh động, vì chúng tôi cho rằng có thể giảm đáng kể tiền lương và các khoản phụ cấp; hiện nay các mức này còn cao so với Việt Nam và Campuchia.

Muốn điều chỉnh chính xác hơn những con số này, cũng như khảo sát toàn bộ cơ cấu quân sự Lào, cần nhanh chóng bổ nhiệm những nhân viên có đủ khả năng chuyên môn để hỗ trợ Tòa Công sứ Hoa Kỳ trong công việc quan trọng này.

Những nhân viên ấy có thể được bố trí trong nhóm Tùy viên hoặc trong Phái bộ Hoạt động Hoa Kỳ (USOM).

5.

Chúng tôi đồng ý rằng tại Campuchia cần lập tức thành lập một bộ phận MAAG phụ trách tiếp vận và tài chính, nhằm giám sát và kiểm soát trang thiết bị cùng ngân quỹ của Hoa Kỳ.

Tại Lào, những nhân viên thích hợp để thực hiện các chức năng tương tự cũng phải được cung cấp trong thời gian sớm nhất.

Những nhân viên có năng lực về ngân sách và tài chính sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các Trưởng Phái bộ Ngoại giao trong việc phân tích những đề nghị ngân sách quân sự của Campuchia và Lào, nhằm bảo đảm rằng:

  • Các khoản được ghi trong ngân sách là chính đáng;
  • Các khoản ấy xứng đáng nhận được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ.

Nhu cầu giảm các mức lương và phụ cấp là một trường hợp điển hình.

6.

Các bảng nói trên thể hiện sự ước tính tốt nhất của chúng tôi về tình hình trong Dương lịch 1955Tài khóa 1956, xét theo chi phí của viện trợ quân sự và kinh tế.

Tuy nhiên, chúng tôi không thể nhấn mạnh quá mức rằng: việc Chính phủ chúng ta chấp thuận các bảng số liệu này — hoặc những bảng khác được tính toán chính xác hơn — không có nghĩa là công cuộc của chúng ta tại Đông Dương đương nhiên sẽ thành công.

Muốn thành công, chính sách của chúng ta phải thấm nhuần một tinh thần quyết tâm, đồng thời phải có tính linh động để ứng phó với tình hình luôn luôn thay đổi.

Chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng danh xưng “Đông Dương” không còn là một cách phân loại hữu ích nữa.

“Đông Dương” không chỉ có nghĩa là Việt Nam; danh xưng ấy cũng không mô tả thích hợp Campuchia và Lào.

Cuối cùng, có thể chúng ta sẽ phải xem xét Campuchia và Lào trong mối liên hệ với một liên minh rộng lớn gồm:

  • Campuchia;
  • Lào;
  • Miến Điện;
  • Thái Lan.

Đồng thời, đối với Campuchia và Lào, vì tại đó đang tồn tại những yếu tố chính trị, sắc tộc và tôn giáo khác biệt, có lẽ hoạt động ngoại giao còn có nhiều khả năng hơn trong việc liên kết hai quốc gia này với những khu vực khác của Đông Nam Á nằm về phía Tây.

7.

Đối với Việt Nam, hoạt động ngoại giao mang thêm một chiều kích thứ ba, vì lập trường của Pháp tại Việt Nam không rõ ràng và có tính hai mặt.

Chúng tôi thấy cần nhấn mạnh rằng những nhận định của chúng tôi về viện trợ Hoa Kỳ dành cho các Quốc gia Liên kết được xây dựng trên giả định rằng chính sách của Chính phủ Pháp vẫn giữ nguyên như đã được trình bày trong Biên bản ghi nhận sự hiểu biết Smith–La Chambre ngày 29-9-1954,[7] và được tái xác nhận trong những cuộc hội đàm Dulles–Mendès-France sau đó.

Theo đó, nước Pháp sẽ cương quyết chống lại việc phong trào Việt Minh mở rộng ảnh hưởng hoặc quyền kiểm soát.

Tuy nhiên, nếu Chính phủ Pháp hiện tại hoặc một chính phủ kế tiếp đi đến một thỏa thuận với Hồ Chí Minh — như Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Paris đã dự đoán và như những điện văn gần đây từ Paris, ở một mức độ nào đó, đã xác nhận, gồm điện văn Paris số 2761 được chuyển lại cho Sài Gòn mang số 418 và điện văn Paris số 2795 được chuyển lại cho Sài Gòn mang số 431[8] — thì toàn bộ sự đánh giá của chúng ta về tình hình có thể phải được sửa đổi nhanh chóng và triệt để.

Chúng tôi tin rằng trong hoàn cảnh như vậy, viện trợ Hoa Kỳ dành cho Việt Nam vẫn phải được tiếp tục, dù ở một quy mô thấp hơn, nhằm kéo dài thời gian để có thể di chuyển phần lớn trang thiết bị quân sự do Hoa Kỳ cung cấp ra khỏi Việt Nam.

8.

[Đoạn đầu bị sai hoặc mất chữ trong nguyên bản] bất kể những điều dè dặt nói trên về tương lai, chúng tôi vẫn tin tưởng mạnh mẽ rằng khoản đầu tư được đề nghị ở trên là chính đáng.

Chúng tôi tin chắc rằng nếu Hoa Kỳ bảo đảm tài trợ cho khoản đầu tư này, chúng ta sẽ có một cơ hội đáng kể để duy trì sự toàn vẹn của các quốc gia ấy.

Collins, McClintock, Yost


Chú thích

[1] Nguồn: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương, 751G.5–MSP/1–855. Phân loại: Tối mật.

Điện văn được chuyển để biết đến Paris, Phnom Penh và Vientiane; đồng thời được chuyển cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ (CINCPAC).

Trong điện văn số 142218Z, ngày 14-1, từ CINCPAC gửi Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ (CNO) và được chuyển lại cho Sài Gòn để biết, Đô đốc Stump bày tỏ sự tán thành tổng quát đối với những đề nghị trong điện văn số 2636.

(Hồ sơ Collins, Hồ sơ Việt Nam, Loạt VII, S.)

[2] Đề ngày 26-11-1954; toàn văn, xem Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Tập XIII, Phần 2, trang 2309.

[3] Đề ngày 17-12-1954; toàn văn, xem tài liệu vừa dẫn, trang 2392.

[4] Cuộc họp diễn ra tại Đà Lạt, miền Nam Việt Nam.

[5] Trong điện văn số 2676 gửi từ Sài Gòn ngày 10-1-1955, Collins thuật lại sự quan ngại sâu sắc của ông Minh rằng quân số 88.085 người dành cho miền Nam Việt Nam theo đề nghị của Hoa Kỳ là quá thấp, đồng thời lịch trình giảm từ quân số hiện hữu 217.000 người là quá gấp gáp.

Ông Minh dự liệu rằng một chương trình cắt giảm quyết liệt như vậy sẽ gây ra những vấn đề rất lớn.

Ngày 5-1, ông Minh đưa ra một đề nghị đối ứng:

  • Miễn cưỡng chấp thuận quy mô và thành phần lực lượng do Hoa Kỳ đề nghị;
  • Nhưng yêu cầu kéo dài tiến trình giảm quân số đến tháng 3-1956.

Collins từ chối chấp nhận đề nghị này. Tuy nhiên, ông cho biết sẵn sàng kiến nghị với Washington tài trợ cho một lực lượng Việt Nam gồm 100.000 quân, với mục tiêu giảm xuống mức ấy vào ngày 31-12-1955.

Collins ước tính kế hoạch này sẽ tốn khoảng 225 triệu đô-la.

(Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương, 751G.5–MSP/1–1055.)

[6] Điện văn đề ngày 13-12-1954, không được in trong bộ FRUS.

(Tài liệu vừa dẫn, 751H.5/12–1354.)

[7] Toàn văn, xem Thông cáo báo chí số 542 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ngày 29-9-1954, Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Tập XIII, Phần 2, trang 2097.

[8] Về điện văn Paris số 2795, xem Văn kiện số 5. Điện văn Paris số 2761 không được in; tuy nhiên, xem chú thích số 5 trong tài liệu vừa dẫn.

Hết dịch nguyên văn

 

Tóm lược Điện văn số 2636 ngày 8-1-1955

Ngày 7-1-1955, Collins, McClintock và Yost họp tại Đà Lạt để cùng đánh giá tình hình Việt Nam, Campuchia và Lào trước khi Hoa Kỳ duyệt xét lại chính sách đối với ba Quốc gia Liên kết.

1. Chủ trương chung

Ba viên chức cho rằng vấn đề không còn là Hoa Kỳ có nên viện trợ hay không, mà là nên viện trợ bao nhiêu. Theo họ, Hoa Kỳ phải tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế và ngoại giao để ngăn ba quốc gia này rơi sâu hơn dưới ảnh hưởng cộng sản.

Các chương trình được đề nghị chỉ là mức cân bằng tối thiểu giữa bốn yêu cầu:

  • Xây dựng quân đội bản xứ đủ bảo đảm an ninh;
  • Được chính quyền mỗi nước chấp nhận;
  • Không vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế địa phương;
  • Đạt kết quả tối đa với chi phí Hoa Kỳ thấp nhất.

2. Quy mô viện trợ

Tổng chi phí Hoa Kỳ dự tính cho ba nước trong Dương lịch 1955 là khoảng 557,5–562,5 triệu đô-la, gồm:

  • Việt Nam: 440,5 triệu;
  • Campuchia: 55 triệu;
  • Lào: 62–67 triệu.

Trong tổng số này có 100 triệu đô-la dành cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp.

3. Riêng đối với Quốc gia Việt Nam

Quốc gia Việt Nam là nơi nhận phần viện trợ lớn nhất. Hoa Kỳ dự định dành 225 triệu đô-la trong Tài khóa 1956 cho lực lượng vũ trang.

Việt Nam ban đầu được cho là có thể đóng góp 43 triệu đô-la, nhưng Collins và các đồng sự hạ mức ước tính xuống 30 triệu, vì còn phải chi cho:

  • Tái định cư quân nhân bị giải ngũ;
  • Thành lập chính quyền tại những vùng thu hồi từ Việt Minh.

Hoa Kỳ muốn giảm quân số từ khoảng 217.000 xuống 88.085 người. Phía Việt Nam cho rằng mức này quá thấp và tiến độ quá nhanh. Collins sau đó sẵn sàng đề nghị duy trì 100.000 quân, nhưng vẫn đặt mục tiêu hoàn tất việc giảm quân số vào ngày 31-12-1955.

4. Campuchia và Lào

  • Campuchia dự kiến duy trì 30.100 quân nhân và 1.500 nhân viên dân sự; Hoa Kỳ muốn giảm mức lương quân đội để hạ chi phí.
  • Lào cũng được yêu cầu giảm lương và phụ cấp quân sự; đồng thời cần thêm chuyên viên Mỹ để khảo sát quân đội và kiểm soát ngân sách.
  • Cả hai nước cần bộ phận MAAG hoặc nhân viên chuyên môn để giám sát viện trợ, trang thiết bị và tài chính.

5. Quan niệm mới về “Đông Dương”

Ba viên chức nhấn mạnh rằng danh xưng “Đông Dương” không còn thích hợp. Việt Nam, Campuchia và Lào phải được xem xét riêng biệt vì hoàn cảnh chính trị, sắc tộc và tôn giáo khác nhau.

Họ còn dự kiến Campuchia và Lào có thể được liên kết với một khối rộng hơn gồm Miến Điện và Thái Lan.

6. Yếu tố Pháp tại Việt Nam

Theo điện văn, tình hình Việt Nam phức tạp hơn vì lập trường không rõ ràng của Pháp. Các đề nghị viện trợ của Hoa Kỳ được xây dựng trên giả định rằng Pháp vẫn chống Việt Minh mở rộng ảnh hưởng.

Nếu Pháp đạt thỏa thuận với Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ sẽ phải nhanh chóng xét lại toàn bộ chính sách. Tuy vậy, Hoa Kỳ vẫn cần tiếp tục viện trợ cho Quốc gia Việt Nam, dù ở mức thấp hơn, ít nhất để có thời gian di chuyển các trang thiết bị quân sự do Mỹ cung cấp.

Ý chính

Điện văn 2636 trình bày một chương trình viện trợ chung cho ba Quốc gia Liên kết, nhưng Quốc gia Việt Nam là trọng điểm, nhận phần lớn ngân khoản. Đổi lại, Collins muốn giảm mạnh quân số, kiểm soát chặt chi phí và xây dựng một quân đội Quốc gia Việt Nam nhỏ hơn nhưng có khả năng tự bảo đảm an ninh. Đồng thời, Hoa Kỳ bắt đầu nhìn Việt Nam, Campuchia và Lào như ba vấn đề riêng, thay vì tiếp tục đặt tất cả trong khuôn khổ chung mang tên “Đông Dương.”