Trang

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

6741. 10-01-1955 (C): Điện văn số 2676 của Collins. (24).

 Ba bài 6739, 6740 và 6741 trong nội dung có nhiều điểm giống nhau nhưng vẫn là 03 văn bản khác nhau. BBT. 

24TL

Link nguyên văn.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d12#fn.7.4.4.8.34.30.2.4.2.12.6


GPT DỊCH NGUYÊN VĂN 


Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1955–1957, Việt Nam, Tập I

Văn kiện số 12: Điện văn của Đại diện Đặc biệt tại Việt Nam (Collins), Đại sứ tại Campuchia (McClintock) và Đại sứ tại Lào (Yost) gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

Sài Gòn, ngày 8-1-1955 — 1 giờ chiều


Điện văn số 2636. Tham chiếu:
A. Điện văn Bộ Ngoại giao số 2130;
B. Điện văn Bộ Ngoại giao số 2477.

1. Theo đề nghị trong điện văn tham chiếu A, và xét đến cuộc duyệt xét sắp tới của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) và Ban Điều phối Hoạt động (OCB) về các chính sách và hoạt động của Hoa Kỳ tại các Quốc gia Liên kết được nói đến trong điện văn tham chiếu B, ngày 7-1, chúng tôi đã họp để duyệt xét tổng quát tình hình trong từng khu vực thuộc trách nhiệm của mình.

2. Chúng tôi đã thảo luận về loại nhận định chung mà chúng tôi có thể thực hiện được và loại nhận định nào sẽ hữu ích nhất cho Chính phủ Hoa Kỳ; từ đó đi đến các kết luận sau đây:

a. Chúng tôi đồng ý rằng không nên tự mình tìm cách lập một bản ước định chiến lược về tình hình quân sự ảnh hưởng đến các Quốc gia Liên kết, bởi vì:

  • đây đúng ra là chức năng của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS);
  • công việc này đòi hỏi những tin tức và sự trợ giúp của bộ tham mưu mà chúng tôi không có tại đây;
  • và việc ước định phải được tiến hành trong một khuôn khổ rộng hơn phạm vi riêng của ba Quốc gia Liên kết.

b. Chúng tôi giả định rằng Chính phủ Hoa Kỳ, cũng như chúng tôi, nhận thức được tầm quan trọng của việc ngăn chặn các Quốc gia Liên kết rơi sâu hơn nữa dưới sự thống trị của Cộng sản.

Chúng tôi tiếp tục tin rằng Hoa Kỳ nên nỗ lực hướng đến mục tiêu này bằng viện trợ quân sự, kinh tế, ngoại giao và những hình thức trợ giúp khác. Căn cứ vào tình hình địa phương, mỗi người chúng tôi đều đã báo cáo về triển vọng thành công của sự viện trợ Hoa Kỳ trong việc giúp các quốc gia này chống lại những bước tiến xa hơn của Cộng sản.

Những đánh giá ấy khác nhau tùy theo từng quốc gia; tuy nhiên, chúng tôi vẫn tin rằng triển vọng thành công đủ để biện minh cho những nỗ lực của Hoa Kỳ.

Vì việc Hoa Kỳ hoàn toàn rút bỏ sự hỗ trợ là điều không thể chấp nhận được, nên theo chúng tôi, vấn đề không phải là Hoa Kỳ có nên viện trợ hay không, mà là nên viện trợ bao nhiêu.

c. Về mức viện trợ của Hoa Kỳ có thể được xem là hợp lý đối với từng quốc gia — có xét đến triển vọng thành công tại mỗi nơi — đây là vấn đề mà chúng tôi chỉ có thể đánh giá được một phần.

Mỗi người chúng tôi đều đã đề nghị các chương trình viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ dành cho quốc gia thuộc trách nhiệm của mình.

Khi xác định quy mô của các chương trình ấy, chúng tôi phải cân nhắc tổng hợp những yếu tố sau:

  1. Nhu cầu xây dựng các lực lượng quân sự bản xứ có khả năng bảo đảm ít nhất một mức an ninh tối thiểu;
  2. Khả năng các chương trình được giới lãnh đạo chính trị tại mỗi quốc gia chấp nhận;
  3. Mức viện trợ bằng đô-la mà nền kinh tế địa phương có thể tiếp nhận mà không gây ra những mất cân đối nghiêm trọng;
  4. Nhu cầu đạt được kết quả tối đa với mức chi tiêu ngân quỹ Hoa Kỳ tối thiểu.

Các yếu tố này có khuynh hướng không tương hợp với nhau. Vì vậy, những chương trình được đề nghị, trong trường hợp tốt nhất, chỉ là sự cân bằng giữa các mục tiêu có phần mâu thuẫn.

Sau khi xem xét những yếu tố nêu trên trong hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, các chương trình mà chúng tôi đề nghị là phần đóng góp thuộc phạm vi mà những người đang có mặt tại chỗ như chúng tôi đủ thẩm quyền và khả năng chuyên môn để đưa ra.

Chúng tôi nhận thấy mình không thể đánh giá thích đáng rằng:

  • chi phí của những chương trình được đề nghị có tương xứng hay không với các chương trình khác tại Viễn Đông, vốn cũng đang cạnh tranh để sử dụng nguồn ngân quỹ Hoa Kỳ hiện có;
  • và do đó, tổng chi phí dành cho ba Quốc gia Liên kết có phải là một sự phân bổ hợp lý nguồn ngân quỹ hiện có hay không.

Tuy nhiên, theo ý kiến của chúng tôi, những con số ước tính trình bày dưới đây là mức tối thiểu.

3. Với những điều nói trên, chúng tôi kết luận rằng nhiệm vụ hữu ích nhất mà chúng tôi có thể thực hiện vào lúc này, nhằm giúp cho cuộc duyệt xét chính sách sắp tới, là trình bày dưới hình thức tổng hợp và khái quát toàn bộ các chương trình viện trợ mà chúng tôi đang đề nghị.

Sau đây là các con số ước tính chi phí cho hai thời kỳ khác nhau:

  • Tài khóa 1956 (FY 1956);
  • Năm dương lịch 1955 (CY 1955).

Các con số của Tài khóa 1956 thể hiện chi phí ước tính cho những chương trình mà chúng tôi đề nghị, và vì vậy cũng là số ngân khoản cần được Quốc hội chuẩn chi để thực hiện các chương trình ấy.

Các con số của năm dương lịch 1955 thể hiện chi phí mà theo ước tính của chúng tôi sẽ phát sinh trong năm nay, nếu các chương trình đề nghị cho Tài khóa 1956 được phê chuẩn.

Chi phí của năm dương lịch 1955 có lẽ phần lớn sẽ được thanh toán bằng những khoản tiền đã được chuẩn chi. Nếu thủ tục trước đây vẫn được áp dụng, ngân khoản quân sự của Tài khóa 1955 sẽ được dùng để tài trợ cho các khoản chi trong sáu tháng cuối năm dương lịch.

Vì vậy, cần lưu ý rằng những con số được nêu trong hai thời kỳ đối với các chương trình tương ứng có sự trùng lặp về thời gian.

Đơn vị: triệu đô-la Mỹ.

Dự toán cho Tài khóa 1956

Khoản mục

Việt Nam

Campuchia

Lào

Tổng cộng

Lực lượng vũ trang

225

44

40–45

309–314

Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC)

50

50

Kinh tế và người tị nạn

80

25

18

123

Tổng chi phí

335*

69

58–63

482–487

Chính phủ địa phương đóng góp

–30

–14

–44

Tổng chi phí của Hoa Kỳ

325

55

58–63

438–443

Dự toán cho năm dương lịch 1955

Khoản mục

VN: 6 tháng đầu

VN: 6 tháng cuối

CPC: 6 tháng đầu

CPC: 6 tháng cuối

Lào: 6 tháng đầu

Lào: 6 tháng cuối

Tổng: 6 tháng đầu

Tổng: 6 tháng cuối

Lực lượng vũ trang

164

126,5

22

22

24–26,5

20–22,5

210–212,5

168,5–171

Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC)

50

50

50

50

Kinh tế và người tị nạn

40

40

12,5

12,5

9

9

61,5

61,5

Tổng cộng

254

216,5

34,5

34,5

33–35,5

29–31,5

321,5–324

280–282,5

Đóng góp của địa phương

–15

–15

–7

–7

–22

–22

Chi phí của Hoa Kỳ

239

201,5

27,5

27,5

33–35,5

29–31,5

299,5–302

258–260,5

Tổng chi phí của Hoa Kỳ trong năm dương lịch 1955:

  • Việt Nam: 440,5 triệu đô-la;
  • Campuchia: 55 triệu đô-la;
  • Lào: 62–67 triệu đô-la;
  • Tổng cộng cho ba quốc gia: 557,5–562,5 triệu đô-la;
  • trong đó 100 triệu đô-la dành cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC).

4. Nhận xét về các bảng

a. Việt Nam

(1) Trong Tài khóa 1956, khoản hỗ trợ 50 triệu đô-la dành cho Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC) chỉ được tính đến hết năm dương lịch 1955.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, quan điểm hiện nay của Washington là Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục hỗ trợ FEC sau cuối năm nay. Tuy nhiên, hoàn cảnh có thể đòi hỏi phải tiếp tục hỗ trợ thêm trong năm dương lịch 1956, ít nhất là cho đến sau ngày dự định tổ chức tổng tuyển cử.

(2) Mặc dù ban đầu Việt Nam được ước tính có khả năng đóng góp 43 triệu đô-la bằng ngân quỹ của mình, chúng tôi tin rằng có những khoản chi phí hoạt động chưa được dự liệu, chẳng hạn:

  • tái định cư những quân nhân bị giải ngũ theo chương trình giảm quân số;
  • thành lập các chính quyền địa phương tại những khu vực giành lại từ Việt Minh.

Do đó, khoản đóng góp 30 triệu đô-la của phía Việt Nam được xem là một mức ước tính an toàn.

(3) Khoản 225 triệu đô-la dành cho Lực lượng vũ trang cao hơn con số 200 triệu đô-la đã được ước tính trước đây. Việc tăng khoản tiền này nhằm cho Chính phủ Việt Nam có thêm thời gian để kéo dài việc giảm quân số trong năm dương lịch 1955.

Vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết trong một điện văn riêng của Collins.[5]

b. Campuchia

Chi phí sửa đổi dành cho việc trực tiếp hỗ trợ lực lượng quân sự được tính trên cơ sở quân số đề nghị đã giảm xuống còn 30.100 quân nhân và 1.500 nhân viên dân sự.

Cơ cấu lực lượng vẫn giữ nguyên như đề nghị trước đây trong điện văn số 352 của Phnom Penh gửi Bộ Ngoại giao,[6] nhưng quân số của các đơn vị được giảm xuống.

Với sự đồng thuận của McClintock, MAAG sẽ trình bày cơ cấu lực lượng mới trong một điện văn riêng.

Chi phí 44 triệu đô-la còn có thể được giảm thêm nếu Chính phủ Campuchia đồng ý hạ mức lương của các lực lượng quân sự.

Con số dành cho Tài khóa 1956 có thể thấp hơn con số của năm dương lịch 1955 nếu mức lương trả cho những tân binh mới tuyển thấp hơn đáng kể.

c. Lào

Chi phí ước tính dành cho lực lượng vũ trang Lào được để ở mức linh động, vì người ta tin rằng có thể giảm đáng kể tiền lương và phụ cấp. Mức lương và phụ cấp hiện nay tại Lào khá cao so với Việt Nam và Campuchia.

Muốn điều chỉnh chính xác hơn những con số này, cũng như khảo sát toàn bộ cơ cấu quân sự Lào, cần nhanh chóng chỉ định những nhân viên có đủ năng lực để giúp Công sứ quán Hoa Kỳ thực hiện công việc quan trọng này.

Những nhân viên ấy có thể được bố trí trong bộ phận Tùy viên quân sự hoặc trong Phái bộ Hoạt động Hoa Kỳ (USOM).

5. Tổ chức việc giám sát viện trợ tại Campuchia và Lào

Chúng tôi đồng ý rằng tại Campuchia cần lập tức thành lập một bộ phận MAAG phụ trách tiếp vận và tài chính, nhằm giám sát và kiểm soát trang thiết bị cũng như ngân quỹ của Hoa Kỳ.

Tại Lào, cần cung cấp càng sớm càng tốt một số nhân viên đầy đủ để thực hiện những chức năng tương tự.

Những nhân viên có năng lực về ngân sách và tài chính sẽ giúp ích rất nhiều cho các Trưởng phái bộ Hoa Kỳ trong việc phân tích những đề nghị về ngân sách quân sự của Campuchia và Lào. Điều này nhằm bảo đảm rằng:

  • các khoản được đưa vào ngân sách là hợp lý;
  • và các khoản ấy thực sự đáng được Hoa Kỳ hỗ trợ.

Nhu cầu giảm các mức lương và phụ cấp là một thí dụ điển hình.

6. Nhận định chung về chính sách tại ba quốc gia

Các bảng nói trên thể hiện sự ước định tốt nhất của chúng tôi về tình hình trong năm dương lịch 1955 và Tài khóa 1956, được tính thành chi phí viện trợ quân sự và kinh tế.

Tuy nhiên, chúng tôi không thể nhấn mạnh quá mức rằng: việc Chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận các bảng này, hoặc những bảng khác được tính toán chính xác hơn, sẽ không đương nhiên bảo đảm sự thành công cho công cuộc của chúng ta tại Đông Dương.

Muốn thành công, chính sách của chúng ta phải thấm nhuần:

  • một tinh thần quyết tâm;
  • đồng thời có đủ tính linh động để ứng phó với tình hình luôn luôn thay đổi.

Chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng “Đông Dương” không còn là một danh xưng phân loại hữu ích nữa.

“Đông Dương” không chỉ có nghĩa là Việt Nam; danh xưng này cũng không mô tả thích hợp Campuchia và Lào.

Cuối cùng, có thể chúng ta sẽ phải xem xét Campuchia và Lào trong mối liên hệ với một liên minh rộng lớn gồm:

  • Campuchia;
  • Lào;
  • Miến Điện;
  • Thái Lan.

Cũng vậy, đối với Campuchia và Lào, do những yếu tố chính trị, sắc tộc và tôn giáo khác biệt đang tác động tại đó, có lẽ ngoại giao còn có phạm vi hoạt động rộng lớn hơn trong việc liên kết hai quốc gia này với những khu vực khác ở phía tây Đông Nam Á.

7. Vấn đề lập trường của Pháp tại Việt Nam

Đối với Việt Nam, hoạt động ngoại giao có thêm một chiều kích thứ ba, do lập trường không rõ ràng của Pháp tại Việt Nam.

Chúng tôi cho rằng cần nhấn mạnh: những nhận định của chúng tôi về viện trợ Hoa Kỳ dành cho các Quốc gia Liên kết được xây dựng trên giả định rằng chính sách của Chính phủ Pháp vẫn giữ đúng như đã được trình bày trong Biên bản ghi nhận sự thỏa thuận Smith–La Chambre ngày 29-9-1954,[7] và sau đó được tái xác nhận trong các cuộc hội đàm Dulles–Mendès-France.

Theo chính sách ấy, Pháp sẽ kiên quyết chống lại việc mở rộng ảnh hưởng hoặc quyền kiểm soát của phong trào Việt Minh.

Tuy nhiên, nếu Chính phủ Pháp hiện tại hoặc một chính phủ Pháp sau này đạt được một thỏa thuận với Hồ Chí Minh — như Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Paris đã dự đoán và như những điện văn gần đây từ Paris phần nào xác nhận, gồm điện văn Paris số 2761, chuyển lại cho Sài Gòn mang số 418, và điện văn Paris số 2795, chuyển lại cho Sài Gòn mang số 431[8] — thì toàn bộ nhận định của chúng ta về tình hình có thể phải được sửa đổi nhanh chóng và triệt để.

Chúng tôi tin rằng, trong hoàn cảnh ấy, viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam vẫn phải được tiếp tục, mặc dù ở mức thấp hơn, nhằm kéo dài thời gian cần thiết để di chuyển phần lớn số trang thiết bị quân sự do Hoa Kỳ cung cấp ra khỏi Việt Nam.

8. Kết luận

[Đoạn nguyên bản bị sai hoặc không đọc được] những điều dè dặt nói trên về tương lai, chúng tôi vẫn tin tưởng mạnh mẽ rằng khoản đầu tư được đề nghị ở trên là chính đáng.

Chúng tôi tin rằng, nếu Hoa Kỳ bảo đảm tài trợ cho khoản đầu tư này, chúng ta sẽ có một cơ hội khá tốt để duy trì sự toàn vẹn của các quốc gia ấy.

Collins — McClintock — Yost


Chú thích của ban biên tập FRUS

[1] Nguồn: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương, 751G.5–MSP/1–855. Phân loại Tối mật.

Điện văn được chuyển để biết đến Paris, Phnom Penh và Vientiane; đồng thời được chuyển cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ (CINCPAC).

Trong điện văn số 142218Z ngày 14-1 của CINCPAC gửi Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ (CNO), đồng thời chuyển để Sài Gòn biết, Đô đốc Stump bày tỏ sự tán thành về tổng thể đối với những đề nghị trong điện văn số 2636.

(Hồ sơ Collins, Hồ sơ Việt Nam, Loạt VII, S.)

[2] Đề ngày 26-11-1954; xem toàn văn trong Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Tập XIII, Phần 2, trang 2309.

[3] Đề ngày 17-12-1954; xem cùng nguồn trên, trang 2392.

[4] Cuộc họp diễn ra tại Đà Lạt, miền Nam Việt Nam.

[5] Trong điện văn số 2676, gửi từ Sài Gòn ngày 10-1-1955, Collins thuật lại mối quan ngại sâu sắc của Bộ trưởng Quốc phòng Hồ Thông Minh rằng quân số 88.085 người dành cho miền Nam Việt Nam, như Hoa Kỳ đề nghị, là quá thấp; đồng thời thời biểu giảm từ quân số hiện tại 217.000 người là quá nhanh.

Ông Minh dự kiến một chương trình cắt giảm quyết liệt như vậy sẽ gây ra những vấn đề rất lớn.

Ngày 5-1, ông trình một đề nghị đối ứng:

  • miễn cưỡng chấp nhận quy mô và thành phần lực lượng do Hoa Kỳ đề nghị;
  • nhưng yêu cầu kéo dài tiến trình giảm quân số đến tháng 3-1956.

Collins không chấp nhận đề nghị này. Tuy nhiên, ông tuyên bố sẵn sàng kiến nghị Washington hỗ trợ một lực lượng Việt Nam gồm 100.000 quân, với hạn định giảm xuống mức đó vào ngày 31-12-1955.

Collins ước tính kế hoạch này sẽ tốn khoảng 225 triệu đô-la.

(Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương, 751G.5–MSP/1–1055.)

[6] Điện văn đề ngày 13-12-1954, không được in trong bộ FRUS.

(Cùng nguồn, 751H.5/12–1354.)

[7] Xem toàn văn trong Thông cáo báo chí số 542 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ngày 29-9-1954, Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Tập XIII, Phần 2, trang 2097.

[8] Về điện văn số 2795, xem Văn kiện số 5. Điện văn số 2761 không được in; xem chú thích số 5 của Văn kiện số 5.

 

 Hết dịch nguyên văn

 

 

Ghi chú về sai số trong nguyên bản: Ở bảng Tài khóa 1956, dòng “Tổng chi phí” của Việt Nam được FRUS in là 335 triệu, nhưng ba khoản phía trên cộng lại là 225 + 50 + 80 = 355 triệu. Con số 355 triệu cũng phù hợp với cả tổng chung 482–487 triệu và chi phí Hoa Kỳ 325 triệu sau khi trừ 30 triệu do Việt Nam đóng góp. Vì vậy, 335 gần như chắc chắn là lỗi in hoặc lỗi đánh máy trong chính bản FRUS.

 

Tóm lược Điện văn số 2636 ngày 8-1-1955

Ngày 7-1-1955 tại Đà Lạt, Collins, McClintock và Yost họp để tổng hợp nhu cầu viện trợ cho ba Quốc gia Liên kết: Quốc gia Việt Nam, Campuchia và Lào. Ngày hôm sau, họ gửi điện văn số 2636 về Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Nội dung chính

1. Hoa Kỳ phải tiếp tục viện trợ

Ba viên chức cho rằng cần ngăn ba quốc gia này rơi sâu hơn dưới ảnh hưởng cộng sản. Vì việc rút bỏ hoàn toàn sự hỗ trợ là không thể chấp nhận, vấn đề không còn là có viện trợ hay không, mà là viện trợ bao nhiêu và bằng cách nào.

2. Mức viện trợ đề nghị chỉ là mức tối thiểu

Các chương trình phải cân bằng bốn yêu cầu:

  • xây dựng lực lượng quân sự bản xứ đủ bảo đảm an ninh tối thiểu;
  • được chính quyền mỗi nước chấp nhận;
  • không vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế địa phương;
  • đạt kết quả cao nhất với chi phí Hoa Kỳ thấp nhất.

Dự toán viện trợ

Cho Tài khóa 1956, tổng chi phí của Hoa Kỳ dành cho ba quốc gia được ước tính là 438–443 triệu đô-la:

  • Quốc gia Việt Nam: 325 triệu;
  • Campuchia: 55 triệu;
  • Lào: 58–63 triệu.

Riêng trong năm dương lịch 1955, tổng chi phí Hoa Kỳ được ước tính là 557,5–562,5 triệu đô-la, trong đó:

  • Quốc gia Việt Nam: 440,5 triệu;
  • Campuchia: 55 triệu;
  • Lào: 62–67 triệu;
  • gồm 100 triệu đô-la hỗ trợ Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC).

Hai bảng có phần trùng nhau về thời gian và không được cộng chung.

Điểm quan trọng đối với Quốc gia Việt Nam

  • Hoa Kỳ dự kiến dành 225 triệu đô-la cho quân đội trong Tài khóa 1956.
  • Con số này cao hơn mức 200 triệu trước đó, nhằm cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam thêm thời gian giảm quân số trong năm 1955.
  • Quân số lúc ấy được nêu là khoảng 217.000 người.
  • Hoa Kỳ ban đầu muốn giảm xuống 88.085 người; Bộ trưởng Quốc phòng Hồ Thông Minh cho rằng mức này quá thấp và tiến độ quá gấp.
  • Collins không chấp nhận kéo dài việc giảm quân đến tháng 3-1956, nhưng sẵn sàng đề nghị duy trì 100.000 quân đến ngày 31-12-1955.
  • Việt Nam được dự tính có thể tự đóng góp 43 triệu đô-la, nhưng Collins và hai đại sứ chỉ tính mức an toàn là 30 triệu, vì còn phải giải quyết quân nhân giải ngũ và lập chính quyền tại những vùng giành lại từ Việt Minh.
  • Khoản hỗ trợ 50 triệu đô-la cho FEC chỉ dự tính đến hết năm 1955, nhưng có thể phải kéo dài sang năm 1956, ít nhất đến sau thời điểm dự kiến tổng tuyển cử.

Điều kiện chính trị quan trọng

Các đề nghị viện trợ dựa trên giả định rằng Pháp tiếp tục chống sự mở rộng ảnh hưởng của Việt Minh. Nếu Pháp thỏa thuận với Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ sẽ phải xét lại toàn bộ chính sách.

Ngay cả trong trường hợp ấy, nhóm tác giả cho rằng Hoa Kỳ vẫn phải tạm thời tiếp tục viện trợ cho Quốc gia Việt Nam, dù ở mức thấp hơn, để có thời gian di chuyển phần lớn quân dụng do Hoa Kỳ cung cấp.

Ý nghĩa

Điện văn cho thấy đầu năm 1955, Hoa Kỳ vẫn coi việc giữ vững Quốc gia Việt Nam, Campuchia và Lào là một khoản đầu tư cần thiết. Riêng tại Quốc gia Việt Nam, viện trợ quân sự rất lớn nhưng đi kèm với chủ trương giảm mạnh quân số và sự lo ngại rằng lập trường không rõ ràng của Pháp có thể làm thay đổi toàn bộ tình thế.

 

Ghi chú:

Ba điện văn 2660 ngày 9-1-1955, 2663 và 2676 ngày 10-1-1955 có nội dung gần nhau vì cùng nằm trong một chuỗi bàn về việc Hoa Kỳ trực tiếp viện trợ, huấn luyện và tổ chức lại Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi điện văn giữ một vai trò riêng: 2660 phản đối việc Pháp trì hoãn và sửa đổi thỏa thuận Ely–Collins; 2663 thuật lại cuộc họp Collins–Ely, trong đó hai bên bàn cả việc huấn luyện, quân số và tiếp tục ủng hộ Chính phủ Diệm; còn 2676 đi sâu vào kế hoạch giảm quân từ khoảng 217.000 xuống 100.000 người vào cuối năm 1955, với chi phí dự kiến 225 triệu đô-la. Vì vậy, đây không phải ba văn bản trùng nhau, mà là ba phần liên tiếp của cùng một vấn đề: thỏa thuận với Pháp, thương lượng với Chính phủ Quốc gia Việt Nam và xác định quân số cùng ngân khoản viện trợ. Điện văn 2660, Điện văn 2663 và chú thích về 2676.