Trang

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

6745. 17-02-1955 – Số 42 (C): (29). Đề nghị chính sách tiếp nhận người tiếp tục rời miền Bắc.

 Collins dự đoán sau thời hạn 300 ngày tự do di chuyển theo Hiệp định Genève kết thúc (05-1955), người dân từ vùng Việt Minh kiểm soát ở phía bắc vĩ tuyến 17 vẫn tiếp tục vượt vào miền Nam.

29TL

Link nguyên văn

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d42


GPT DỊCH

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1955–1957, Việt Nam, Tập I

Văn kiện số 42: Điện văn của Đại diện Đặc biệt tại Việt Nam (Collins) gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

Sài Gòn, ngày 17-2-1955 — 4 giờ chiều


Điện văn số 3441. Tham chiếu: Tousfo 1258.[2]

1. Cùng với các đại diện của Đại sứ quán, … và Phái bộ Hoạt động Hoa Kỳ (USOM), tôi đã suy xét về chính sách mà Hoa Kỳ nên áp dụng đối với những người tị nạn tiếp tục trốn khỏi khu vực Việt Minh ở phía bắc vĩ tuyến 17, sau khi kết thúc thời hạn được quy định tại Điều 14(d) của Hiệp định Genève.[3] Trong thời hạn ấy, người tị nạn phải được phép và được giúp đỡ di chuyển từ vùng này sang vùng kia.

Chúng tôi khởi đi từ nhận định rằng sau khi thời hạn 300 ngày chấm dứt vào tháng 5, một dòng người tị nạn nào đó vẫn sẽ tiếp tục từ lãnh thổ Việt Minh vượt qua vĩ tuyến 17 để vào Nam.

Bị thúc đẩy bởi:

  • khát vọng tự do;
  • sự áp bức của Việt Minh;
  • tình trạng khó khăn kinh tế;
  • hoặc bất kỳ lý do nào khác trong rất nhiều nguyên nhân,

người tị nạn sẽ tiếp tục đi về phía Nam.

Câu hỏi đặt ra là: Họ phải được tiếp nhận và chăm sóc như thế nào?

2. Những yếu tố liên quan có ảnh hưởng đến quyết định gồm:

a. Tính chất mơ hồ nói chung trong toàn bộ Hiệp định Genève;

b. Sự nhạy cảm của người Pháp, vì họ muốn tránh mọi lời cáo buộc rằng mình vi phạm Hiệp định;

c. Cần tránh tạo ra một tình thế khiến Hoa Kỳ có thể bị cáo buộc đang tích cực vi phạm Hiệp định.

3. Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ không nên để lộ ra bên ngoài rằng mình trực tiếp tham gia chương trình sắp được thiết lập.

Loại chương trình thông thường của Hoa Kỳ dành cho những người trốn thoát, trong đó nhấn mạnh “dấu ấn Hoa Kỳ” trong việc cứu trợ, chăm sóc và chuyển vận họ, không thích hợp với tình hình này.

4. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị:

a. Hoa Kỳ nên giúp phía Việt Nam xây dựng một chương trình tiếp nhận những người trốn thoát, để chương trình bắt đầu hoạt động vào ngày 19-5-1955;

b. Chương trình này sẽ được tài trợ bằng ngân quỹ Hoa Kỳ, …;

c. … và việc điều hành chương trình phải do nhân viên của Chính phủ Việt Nam đảm nhiệm và thực hiện.

Collins


Chú thích của ban biên tập FRUS

[1] Nguồn: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương, 751G.00/2–1755. Phân loại Tối mật.

[2] Trong điện văn này, ngày 8-2, USOM báo cáo về các kế hoạch dự kiến nhằm tiếp tục những hoạt động giúp người Việt Nam rời khỏi miền Bắc sau khi Pháp rút khỏi Hải Phòng vào tháng 5, theo các điều khoản của Hiệp định Genève.

(Trung tâm Hồ sơ Quốc gia Washington, Hồ sơ điện văn FOA: FRC 56 A 632, Hộp 98, Việt Nam.)

[3] Điều 14, khoản (d), của Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam ngày 20-7-1954 quy định quyền tự do di chuyển của thường dân từ miền Bắc vào miền Nam hoặc từ miền Nam ra miền Bắc, cho đến khi hết thời hạn 300 ngày dành cho việc tập kết quân đội của Quân đội Nhân dân Việt Nam hoặc các lực lượng Liên hiệp Pháp.

Xem toàn văn trong Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Tập XVI, trang 1505.

Hết dịch nguyên văn

 

Tóm lược Điện văn số 3441 ngày 17-2-1955

Collins dự đoán rằng sau khi thời hạn 300 ngày tự do di chuyển theo Hiệp định Genève kết thúc vào tháng 5-1955, người dân từ vùng Việt Minh kiểm soát ở phía bắc vĩ tuyến 17 vẫn tiếp tục vượt vào miền Nam vì áp bức chính trị, khó khăn kinh tế và khát vọng tự do.

Ông đề nghị Hoa Kỳ:

  • giúp Chính phủ Quốc gia Việt Nam chuẩn bị một chương trình tiếp nhận những người tiếp tục rời miền Bắc;
  • đưa chương trình vào hoạt động từ ngày 19-5-1955;
  • dùng ngân quỹ Hoa Kỳ tài trợ;
  • nhưng để Chính phủ Quốc gia Việt Nam đứng tên, tổ chức và trực tiếp điều hành.

Hoa Kỳ không nên công khai vai trò của mình hoặc tạo “dấu ấn Hoa Kỳ”, nhằm tránh bị cáo buộc vi phạm Hiệp định Genève và giảm sự lo ngại của Pháp.

Ý chính: Hoa Kỳ dự tính âm thầm tài trợ một chương trình do Chính phủ Quốc gia Việt Nam thực hiện để tiếp nhận những người vẫn tiếp tục trốn khỏi miền Bắc sau khi quyền tự do di chuyển theo thời hạn 300 ngày chấm dứt.