Collins dự đoán sau thời hạn 300 ngày tự do di chuyển theo Hiệp định Genève kết thúc (05-1955), người dân từ vùng Việt Minh kiểm soát ở phía bắc vĩ tuyến 17 vẫn tiếp tục vượt vào miền Nam.
29TL
Link nguyên văn
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d42
GPT DỊCH
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1955–1957, Việt Nam, Tập I
Văn kiện số 42: Điện văn của Đại diện Đặc biệt tại Việt
Nam (Collins) gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Sài Gòn, ngày
17-2-1955 — 4 giờ chiều
Điện văn số 3441. Tham chiếu: Tousfo 1258.[2]
1. Cùng với các đại diện của Đại sứ quán, … và Phái bộ
Hoạt động Hoa Kỳ (USOM), tôi đã suy xét về chính sách mà Hoa Kỳ nên áp dụng đối
với những người tị nạn tiếp tục trốn khỏi khu vực Việt Minh ở phía bắc vĩ tuyến
17, sau khi kết thúc thời hạn được quy định tại Điều 14(d) của Hiệp định
Genève.[3] Trong thời hạn ấy, người tị nạn phải được phép và được giúp đỡ di
chuyển từ vùng này sang vùng kia.
Chúng tôi khởi đi từ nhận định rằng sau khi thời hạn 300
ngày chấm dứt vào tháng 5, một dòng người tị nạn nào đó vẫn sẽ tiếp tục từ lãnh
thổ Việt Minh vượt qua vĩ tuyến 17 để vào Nam.
Bị thúc đẩy bởi:
- khát vọng
tự do;
- sự áp
bức của Việt Minh;
- tình
trạng khó khăn kinh tế;
- hoặc bất
kỳ lý do nào khác trong rất nhiều nguyên nhân,
người tị nạn sẽ tiếp tục đi về phía Nam.
Câu hỏi đặt ra là: Họ phải được tiếp nhận và chăm sóc như
thế nào?
2. Những yếu tố liên quan có ảnh hưởng đến quyết định
gồm:
a. Tính chất mơ hồ nói chung trong toàn bộ Hiệp định
Genève;
b. Sự nhạy cảm của người Pháp, vì họ muốn tránh mọi lời
cáo buộc rằng mình vi phạm Hiệp định;
c. Cần tránh tạo ra một tình thế khiến Hoa Kỳ có thể
bị cáo buộc đang tích cực vi phạm Hiệp định.
3. Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ không nên để lộ ra bên
ngoài rằng mình trực tiếp tham gia chương trình sắp được thiết lập.
Loại chương trình thông thường của Hoa Kỳ dành cho những người
trốn thoát, trong đó nhấn mạnh “dấu ấn Hoa Kỳ” trong việc cứu trợ, chăm
sóc và chuyển vận họ, không thích hợp với tình hình này.
4. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị:
a. Hoa Kỳ nên giúp phía Việt Nam xây dựng một chương
trình tiếp nhận những người trốn thoát, để chương trình bắt đầu hoạt động vào
ngày 19-5-1955;
b. Chương trình này sẽ được tài trợ bằng ngân quỹ Hoa
Kỳ, …;
c. … và việc điều hành chương trình phải do nhân viên
của Chính phủ Việt Nam đảm nhiệm và thực hiện.
Collins
Chú thích của ban biên tập FRUS
[1] Nguồn: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương,
751G.00/2–1755. Phân loại Tối mật.
[2] Trong điện văn này, ngày 8-2, USOM báo cáo
về các kế hoạch dự kiến nhằm tiếp tục những hoạt động giúp người Việt Nam rời
khỏi miền Bắc sau khi Pháp rút khỏi Hải Phòng vào tháng 5, theo các điều khoản
của Hiệp định Genève.
(Trung tâm Hồ sơ Quốc gia Washington, Hồ sơ điện văn FOA:
FRC 56 A 632, Hộp 98, Việt Nam.)
[3] Điều 14, khoản (d), của Hiệp định đình chỉ chiến
sự tại Việt Nam ngày 20-7-1954 quy định quyền tự do di chuyển của thường
dân từ miền Bắc vào miền Nam hoặc từ miền Nam ra miền Bắc, cho đến khi hết thời
hạn 300 ngày dành cho việc tập kết quân đội của Quân đội Nhân dân Việt Nam hoặc
các lực lượng Liên hiệp Pháp.
Xem toàn văn trong Foreign Relations of the United
States, 1952–1954, Tập XVI, trang 1505.
Hết dịch nguyên văn
Tóm lược Điện văn số 3441 ngày 17-2-1955
Collins dự đoán rằng sau khi thời hạn 300 ngày tự do di
chuyển theo Hiệp định Genève kết thúc vào tháng 5-1955, người dân từ vùng
Việt Minh kiểm soát ở phía bắc vĩ tuyến 17 vẫn tiếp tục vượt vào miền Nam vì áp
bức chính trị, khó khăn kinh tế và khát vọng tự do.
Ông đề nghị Hoa Kỳ:
- giúp
Chính phủ Quốc gia Việt Nam chuẩn bị một chương trình tiếp nhận những người
tiếp tục rời miền Bắc;
- đưa
chương trình vào hoạt động từ ngày 19-5-1955;
- dùng
ngân quỹ Hoa Kỳ tài trợ;
- nhưng
để Chính phủ Quốc gia Việt Nam đứng tên, tổ chức và trực tiếp điều hành.
Hoa Kỳ không nên công khai vai trò của mình hoặc tạo “dấu ấn
Hoa Kỳ”, nhằm tránh bị cáo buộc vi phạm Hiệp định Genève và giảm sự lo ngại của
Pháp.
Ý chính: Hoa Kỳ dự tính âm thầm tài trợ một chương
trình do Chính phủ Quốc gia Việt Nam thực hiện để tiếp nhận những người vẫn tiếp
tục trốn khỏi miền Bắc sau khi quyền tự do di chuyển theo thời hạn 300 ngày chấm
dứt.