Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là học giả, nhà văn, dịch giả và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam, tác giả hơn một trăm công trình biên soạn, khảo cứu và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực như văn học, lịch sử, triết học, giáo dục và kỹ năng sống.
Tác phẩm Trên Đường Thiên Lý là một hồi ký ghi lại những điều mắt thấy tai nghe cùng những suy ngẫm của ông về xã hội, văn hóa và chính trị Việt Nam trong giai đoạn nhiều biến động của thế kỷ XX.
Với lối viết giản dị, chân thực và giàu tính quan sát, tác giả không chỉ thuật lại những chuyến đi, những cuộc gặp gỡ và các sự kiện đương thời mà còn bày tỏ những nhận định độc lập của một trí thức luôn quan tâm đến vận mệnh đất nước. Tác phẩm vừa mang giá trị tự thuật, vừa là một nguồn tư liệu giúp người đọc hiểu thêm về con người, xã hội và bối cảnh lịch sử Việt Nam đương thời.
Con đường Thiên Lý.
Bản pdf.
https://dilib.vn/pdf/viewer.php?id=1cbb54
Các file ghi âm.
File 1.
https://youtu.be/FchR1Xwzw80?si=m8v2Cpmgpu2CgoGb
File 2.
https://youtu.be/x62a-m5S95Y?si=QPuDcQ0i0SwW3ASa
File 3.
https://youtu.be/JvLhqUuyeN0?si=q-ebRIlgEyVfNE2o
File 4.
https://youtu.be/0LkgsoqPKwY?si=En_Qy1uEUlaIuXIc
File 5.
https://youtu.be/O_-XMusCkI4?si=PR3UY3YOUYpKNqDq
File 6.
https://youtu.be/Ujuq5sgWhKE?si=ImK_hX5v8T4LdXSi
File 7.
https://youtu.be/1ZNBhyqj_3s?si=yxD9xqN2VMYykq3i
File 8.
https://youtu.be/bvtzxLBRhcQ?si=68fL8Uci-aLiBjaN
Hết.
trang 169 viết:
...
Chính sách của họ Ngô thời đó là chỉ dùng những tay sai cũ của Pháp và những người trong đảng Cần lao, những người di cư, còn hạng người không theo Cộng cũng Cộng hết ráo. Những chiến sĩ đánh Pháp theo họ đều là Cộng hết.
Người ta bảo Ngô Đình Diệm là nhà “ái quốc”. Ái quốc ở chỗ nào mà ông ta coi hết thảy những chiến sĩ kháng Pháp bất kể trong thành phần nào, có khuynh hướng nào đều là kẻ thù số một của ông cả.
Miền Nam này không tiến được, mỗi ngày một sa đọa chính vì họ Ngô có
tinh thần hẹp hòi như vậy, không biết dùng người có tư cách.
...
Hai năm 1955, 1956 trong nước có nhiều việc xáo động: chính phủ Ngô Đình Diệm phải giải quyết việc định cư của trên tám trăm ngàn đồng bào ở Bắc vô, lật Bảo Đại để hất cẳng Pháp mà đứng hẳn vào hàng ngũ của Mĩ, rồi dẹp đảng phái, giáo phái chống đối như Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài để thống nhất quân đội, củng cố quyền lực trung ương. Đồng thời họ Ngô đề cao vai trò của Ki Tô giáo, cho rằng chỉ Ki Tô giáo mới là lực lượng chánh yếu chống Cộng, biệt đãi các tín đồ Ki Tô giáo di cư, và một số người này vênh vênh tự đắc, nghĩ mình đã bỏ hết gia sản lại Bắc mà vô đây là hi sinh cho chính nghĩa, thì đáng được hưởng mọi quyền lợi, đáng được giao phó cho mọi trách nhiệm điều khiển. Họ có vẻ khinh các đồng bào ở Nam, cả những người Bắc đã vô đây làm ăn từ lâu là ươn hèn, nếu không phải là có óc thiên Cộng. Tôi biết một số đồng bào di cư ở một miền nọ tại Rạch Giá bày hàng ra bán ở giữa lộ, xe hơi qua lại phải ngừng máy, năn nỉ họ, họ mới ngồi né vô
170
trong một chút, vừa đủ cho xe qua được. Tôi lại biết một giáo sư di cư tới dạy một trường trung học Hậu Giang miệt thị các giáo sư gốc Nam, cả ông hiệu trưởng là người “Bắc cũ” nữa, hung hăng gây lộn với mọi người, tới trường mà mang theo cây súng sáu kè kè bên mình. Dân chúng trong thị trấn ghét lắm nhưng không ai dám nói ra. Ngay trưởng ti công an cũng phải gườm ông ta nữa: cứ nửa tháng, một tháng là ông ta lại đi Sài Gòn một lần, chẳng biết để làm gì, nhưng dân chúng thì thấm rằng để làm báo cáo mật với “cụ Cố” (tức cố vấn Ngô Đình Nhu).
Vì vậy mà không khí ở miền Nam nghẹt thở. Khi chính phủ bác bỏ đề nghị thống nhất mà miền Bắc đưa ra lấy lẽ rằng Mĩ và Ngô Đình Diệm đều không kí vào hiệp ước Genève, địa vị của Ngô vững vàng rồi, phong trào “tố Cộng” phát triển rầm rộ mà một nhà văn (Tạ Chí Đại Trường) đã nhận định rất đúng là “chỉ mang ý nghĩa chỉ điểm, không kèm theo một chính sách rõ rệt hấp dẫn nông dân, thành vô tình như một cuộc trả thù, xua đuổi những người cựu kháng chiến – kể cả địa chủ – chạy tuốt ra bưng” [39]. Một hậu quả nữa là hàng ngàn người vô tội bị đưa vào trại giam, tới độ họ bị tù nhân Cộng sản thuyết phục mà hóa ra thân Cộng.
175...
Nhưng tôi chưa biết chút gì về ông Diệm, nên giữ thái độ chờ xem. Khi tôi thấy cuộc trưng cầu dân ý để lật Bảo Đại, có tính cách rõ ràng là gian lận, ở Sài Gòn, Chợ Lớn chẳng hạn có 605.025 người bầu cho ông ta trong khi số cử tri ghi tên chỉ có 450.000 người, và kết quả là ông ta thắng với tỉ số 98,2% thuận và 1,1% nghịch [41] thì tôi đâm ngán. Bịp bợm trắng trợn như vậy thì không thể gọi là thông minh được. Nhất là khi hay tin ông ta trước khi nhận chúc thư Thủ tướng đã quì trước mặt Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương và vài người chứng kiến, thề một mực sẽ trung thành với Bảo Đại “duy trì ngai vàng cho Hoàng tử Bảo Long”, mà bây giờ lại lật Bảo Đại như vậy, thì tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có người khen ông là có tư cách cao, nhiễm sâu đạo Khống. Tôi nghĩ bụng con người đó vô sở bất vi. Quả nhiên sau này, trong vụ đảo chánh hụt tháng 11 năm 1960, ông lại thất hứa và lừa gạt phe đảo chánh và quốc dân lần nữa. Ngày 12 tháng đó, ông long trọng tuyên bố sẽ giải tán nội các, thành lập một chính thể chuyển tiếp, mở rộng nội các cho các nhà cách mạng phe đối lập hợp tác. “Quốc dân cứ bình tĩnh và tin ở lòng ái quốc cùng lòng yêu dân vô cùng của Tổng Thống”. Nhưng khi đạo quân trung thành với ông về kịp Sài Gòn, đánh bạt phe đảo chánh thì ông nuốt lời hứa, không thay đổi nội các mà đàn áp dữ dội những người ngây thơ tin ở ông.
178
Người ta còn mời tôi giữ vài chức vụ, Tôi từ chối hết, không muốn dính dáng một chút gì với chính quyền đó. Diệm “anh minh” hóa ra còn tệ hơn Bảo Đại play-boy mà Mĩ đỡ đầu cho, Diệm còn đáng ghét hơn Pháp.