Trang

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

6762. 09-05-1955, 21 giờ – Số 180 (C): Collins trao đổi với Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Pháp. (94 TL)

Link nguồn

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d180? 

GPT DỊCH

TÀI LIỆU 180 – FRUS (09-05-1955)

Tựa đề: Collins phân tích sự cần thiết duy trì quân đội Pháp tại Việt Nam và hậu quả nếu Pháp rút quân quá sớm.

  • Ngày: 09-05-1955, lúc 9 giờ tối.
  • Nơi gửi: Sài Gòn.
  • Người gửi: Tướng J. Lawton Collins, Đại diện đặc biệt của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
  • Nơi nhận: Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Pháp, chuyển cho Young.
  • Số điện văn: 1323.
  • Mức độ mật: Tối mật, hạn chế phổ biến.

I. BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT

Điện văn của Đại diện đặc biệt Hoa Kỳ tại Việt Nam (Collins) gửi Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Pháp

Sài Gòn, ngày 09 tháng 5 năm 1955, lúc 9 giờ tối.


1323. Gửi Bộ trưởng Ngoại giao, chuyển cho Young.

Tham chiếu điện văn số 717 từ Paris gửi Sài Gòn, đồng thời chuyển cho Bộ Ngoại giao với ký hiệu Dulte 9.

A. Về đề nghị của Faure rằng Quân đoàn Viễn chinh Pháp có thể sớm rút khỏi Việt Nam

1. Có ba lý do quân sự khiến Quân đoàn Viễn chinh Pháp (FEC) cần tiếp tục ở lại Việt Nam, ít nhất cho đến tháng 7 năm 1956:

a. Nếu Quân đoàn Viễn chinh Pháp rút khỏi Việt Nam, khu vực này sẽ xuất hiện một khoảng trống quân sự chiến lược có thể gây nguy hiểm.

Hiện nay, Pháp đã nhận trách nhiệm chiến lược chủ yếu trong việc phòng thủ Việt Nam, Lào và Campuchia, dưới khuôn khổ rộng lớn của Hiệp ước Manila.

Tôi nghi ngờ rằng Hoa Kỳ, Khối Thịnh vượng chung Anh hoặc Ấn Độ đã sẵn sàng đứng ra đảm nhận trách nhiệm này vào lúc hiện tại.

b. Chừng nào Ủy hội Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (ICC) còn hoạt động tại Việt Nam, tôi cho rằng không có nguy cơ Việt Minh mở cuộc tấn công vượt qua vĩ tuyến 17.

Nếu vì bất cứ lý do nào Ủy hội Quốc tế giải tán, hoặc khi đến gần thời điểm dự kiến tổ chức tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève mà Việt Minh tin rằng họ không thể thắng cuộc tuyển cử ấy, hoặc cuộc tuyển cử có thể không được tổ chức, thì có thể xuất hiện nguy cơ Việt Minh tấn công.

Biện pháp bảo đảm thực sự duy nhất để đối phó với tình huống sau cùng này nằm trong tuyên bố của các nước tham gia Hiệp ước Manila.

Có vẻ khá rõ ràng rằng hành động quân sự duy nhất mà các nước tham gia Hiệp ước Manila có thể thực hiện, nếu có, sẽ là sử dụng không quân và hải quân chống lại Việt Minh.

Tôi cho rằng việc sử dụng sức mạnh ấy sẽ không chỉ giới hạn ở miền Bắc Việt Nam, mà còn có thể mở rộng sang Trung Quốc nếu có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy cuộc tấn công của Việt Minh được Trung Quốc hỗ trợ.

Tuy nhiên, theo nhận định của tôi, ngoài những hành động đó, còn cần phải tiến hành các hoạt động hải quân và không quân tại miền Nam Việt Nam để ngăn Việt Minh đánh chiếm toàn bộ miền Nam.

Chỉ riêng hoạt động hải quân và không quân không thể ngăn chặn được cuộc tiến quân ấy, như đã được chứng minh rõ ràng trong Chiến tranh Triều Tiên.

Cần phải có một số lực lượng bộ binh có khả năng tiến hành các trận đánh trì hoãn từ vĩ tuyến 17 đến những vị trí phòng thủ bảo vệ khu vực trọng yếu Sài Gòn – Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu), rồi tổ chức phòng thủ khu vực này.

Chỉ riêng quân đội Việt Nam không thể cung cấp lực lượng hữu hiệu cho nhiệm vụ đó.

Ngoài kỹ năng chuyên môn cần thiết để tiến hành các trận đánh trì hoãn, còn phải có một lực lượng được huấn luyện để phối hợp và chỉ đạo việc sử dụng không quân yểm trợ các hoạt động trên bộ.

Chỉ có Quân đoàn Viễn chinh Pháp đủ khả năng thực hiện những hoạt động và sự phối hợp như vậy.

c. Lý do quân sự thứ hai để mong muốn duy trì Quân đoàn Viễn chinh Pháp là: theo Hiệp định Genève, việc đưa thêm quân nhân nước ngoài vào Việt Nam bị hạn chế. Vì vậy, Quân đoàn Viễn chinh Pháp là một thành phần thiết yếu trong việc tổ chức lại và huấn luyện các lực lượng vũ trang Việt Nam.

Quân đoàn Viễn chinh Pháp sẽ cung cấp phần lớn các huấn luyện viên và, trong một thời gian nữa, nhiều cố vấn kỹ thuật.

Ngoài ra, Quân đoàn Viễn chinh Pháp hiện vẫn đảm nhiệm gần như toàn bộ công tác hậu cần cho các lực lượng Việt Nam.

Quân đoàn Viễn chinh Pháp có thể chỉ để lại những đơn vị tiếp vận và kho tàng thật sự cần thiết nhằm điều hành các cơ sở cung ứng, cho đến khi quân đội Việt Nam sẵn sàng tiếp quản.

Tương tự, một phái bộ huấn luyện Pháp có thể được giữ lại dưới quyền chỉ huy của Trưởng Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ (MAAG).

2. Ngoài những vấn đề thuần túy quân sự liên quan đến việc duy trì Quân đoàn Viễn chinh Pháp tại Việt Nam, còn có những vấn đề chính trị gắn bó mật thiết với việc này.

Tôi nhận thấy rằng sự hiện diện của Quân đoàn Viễn chinh Pháp, đặc biệt trong những tuần gần đây, đã tạo điều kiện cho việc tuyên truyền rằng những người “thực dân” đang sử dụng lực lượng quân sự này để chống lại ý chí của “nhân dân” muốn tiêu diệt Bình Xuyên, phủ nhận Bảo Đại, củng cố chế độ Diệm và thành lập một Quốc dân Đại hội.

Dù những lời chỉ trích ấy có cơ sở đúng đắn đến mức nào, tôi cho rằng chúng ta không nên quên sự kiện rằng Quân đoàn Viễn chinh Pháp có thể đã ngăn chặn những phần tử nguy hiểm hơn, có hoặc không có sự đồng lõa của Việt Minh, khỏi việc đánh bại Diệm và mở đường cho Việt Minh cuối cùng nắm quyền.

Việc có nên duy trì Quân đoàn Viễn chinh Pháp chỉ vì những lý do chính trị hay không là vấn đề có thể được tranh luận một cách hợp lý từ cả hai phía, tán thành và phản đối.

Tuy nhiên, xét cho cùng, rõ ràng sự hiện diện của Quân đoàn Viễn chinh Pháp tạo ra một ảnh hưởng điều hòa đáng mong muốn.

B. Về câu hỏi của Bộ trưởng Ngoại giao liên quan đến những nguy cơ đối với công dân Pháp nếu Quân đoàn Viễn chinh Pháp rút đi nhanh chóng

1. Nếu Quân đoàn Viễn chinh Pháp rút đi một cách vội vã trong hoàn cảnh hiện nay, hành động đó sẽ chính thức xác nhận sự đổ vỡ căn bản trong quan hệ giữa Pháp và Việt Nam.

Những hậu quả tiếp theo sẽ tùy thuộc vào cách thức rút quân:

a. Quân đoàn Viễn chinh Pháp có thể rút đi một cách bình tĩnh và có kế hoạch, với mức độ va chạm và bất mãn thấp nhất, đồng thời phía Pháp bày tỏ phần nào sự tin tưởng vào tình hình an ninh tại nơi họ rời đi.

Hoặc:

b. Việc rút quân có thể được thực hiện theo cách bực tức và gây thêm căng thẳng, tạo ra nhiều bất mãn và cảm giác bất an.

2.

a. Trong điều kiện nêu tại mục 1a, có lẽ sẽ không có nguy hiểm lớn đối với cộng đồng người Pháp hoặc những cộng đồng ngoại quốc khác, mặc dù vẫn có thể xảy ra những sự cố riêng lẻ.

Một số cuộc di tản phụ nữ và trẻ em Pháp đã diễn ra mà không gặp sự cố.

b. Nếu tình huống nêu tại mục 1b xảy ra, điều có thể phù hợp với tâm trạng hiện nay của phía Pháp, thì có thể xuất hiện những vụ rối loạn nghiêm trọng dẫn đến hoảng loạn, đặc biệt nếu việc rút quân diễn ra quá vội vã.

Chiến dịch chống Pháp quyết liệt hiện đang được một số thành phần tại Việt Nam tiến hành sẽ bị kích động mạnh hơn bởi hành động của Pháp và có thể dẫn đến những vụ bùng phát nghiêm trọng.

Có thể tin chắc rằng Việt Minh sẽ tìm cách kích động những vụ rối loạn như vậy.

3. Một yếu tố quan trọng cần xem xét là ảnh hưởng của việc Quân đoàn Viễn chinh Pháp rút đi đối với tình hình kinh tế Việt Nam.

Các quyền lợi kinh doanh của Pháp giữ vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

a. Nếu việc rút quân diễn ra theo điều kiện nêu tại mục 1a, chúng tôi tin rằng sẽ không có cuộc rút đi hàng loạt của các công ty Pháp. Những công ty muốn ở lại vẫn có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh thành công.

b. Tuy nhiên, nếu việc rút quân diễn ra theo điều kiện nêu tại mục 1b, rất có thể sẽ xảy ra cuộc di tản hàng loạt của các cơ sở thương mại và kinh doanh Pháp.

Điều này có thể tạo ra tình trạng hỗn loạn kinh tế nghiêm trọng đến mức toàn bộ nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam, cả về quân sự lẫn kinh tế, sẽ bị đình trệ.

Nguyên nhân là vì giới thương mại, phần lớn nằm trong tay người Pháp, tạo ra nguồn tiền đồng Đông Dương (piastre) dùng để chi trả cho các chương trình này.

4. Chúng tôi cho rằng ít có khả năng người Pháp thực sự tự nguyện tiến hành một cuộc triệt thoái hoàn toàn Quân đoàn Viễn chinh Pháp.

Trong hoàn cảnh hiện nay, các giới kinh doanh Pháp không thể rút hết những cơ sở và quyền lợi đáng kể còn lại của họ.

Chúng tôi cho rằng nhiều khả năng họ có thể gây đủ áp lực chính trị đối với Chính phủ Pháp để bảo đảm tiếp tục duy trì ít nhất một lực lượng quân sự tối thiểu nhằm bảo vệ họ.

Collins

II. CHÚ THÍCH TÀI LIỆU

Chú thích 1. Nguồn: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Hồ sơ Trung ương, 751G.00/5–955. Tối mật; hạn chế phổ biến. Bản văn được sử dụng là bản sao gửi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ để thông tin cho Robertson.

Chú thích 2. Điện văn số 717, gửi từ Paris đến Sài Gòn ngày 08-05-1955, có nội dung:

“Muốn biết phản ứng của ông đối với những nhận xét kết luận của Faure về Quân đoàn Viễn chinh Pháp, được trình bày trong bản tóm tắt bằng điện văn của chúng tôi về phiên họp ba bên ngày thứ Bảy bàn về Việt Nam, đã dẫn chiếu trong điện văn Secto 8.

Đồng thời, xin ông đánh giá những nguy cơ mà công dân Pháp có thể phải đối diện nếu Quân đoàn Viễn chinh Pháp rút đi nhanh chóng.”

Nguồn: Hồ sơ Trung ương Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 751G.00/5–855.

Hết nguyên văn

 

III. TÓM TẮT NỘI DUNG

1. Collins đề nghị duy trì quân đội Pháp ít nhất đến tháng 7-1956.

Ông cho rằng quân đội Pháp vẫn cần thiết để phòng thủ miền Nam, huấn luyện quân đội Việt Nam và bảo đảm công tác hậu cần. Quân đội Việt Nam lúc đó chưa đủ khả năng tự đảm nhận các nhiệm vụ này.

2. Collins trực tiếp đề cập cuộc tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève.

Ông nhận định nguy cơ Việt Minh tấn công có thể xuất hiện khi gần đến thời điểm tổng tuyển cử tháng 7-1956, đặc biệt nếu Việt Minh cho rằng họ không thể thắng hoặc cuộc tuyển cử có thể không được tổ chức.

3. Collins nhận định sự hiện diện của quân đội Pháp có tác dụng điều hòa tình hình chính trị.

Mặc dù thừa nhận quân đội Pháp bị chỉ trích là bảo vệ quyền lợi thực dân và cản trở các lực lượng ủng hộ Diệm, Collins cho rằng quân đội Pháp cũng có thể đã ngăn chặn những lực lượng khác đánh bại chính phủ Diệm.

4. Collins cảnh báo hậu quả của việc Pháp rút quân vội vã.

Nếu Pháp rút quân trong tình trạng căng thẳng, có thể xảy ra bạo động chống Pháp, gây nguy hiểm cho cộng đồng người Pháp và những người ngoại quốc khác.

5. Collins nhấn mạnh sự lệ thuộc kinh tế của Việt Nam vào các cơ sở kinh doanh Pháp.

Ông cho rằng nếu các doanh nghiệp Pháp rút đi hàng loạt, nền kinh tế Việt Nam có thể rơi vào hỗn loạn, khiến cả chương trình viện trợ quân sự lẫn kinh tế của Hoa Kỳ bị đình trệ.

IV. HAI ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý

Thứ nhất: Vấn đề tổng tuyển cử tháng 7-1956.

Tài liệu này xác nhận rằng vào ngày 09-05-1955, Collins vẫn sử dụng thời điểm tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève làm một mốc quan trọng trong việc hoạch định phòng thủ miền Nam.

Đặc biệt, ông không chỉ đề cập khả năng Việt Minh thất bại trong tổng tuyển cử mà còn nêu cả khả năng cuộc tổng tuyển cử không được tổ chức.

Đây là nhận định của Collins về nguy cơ quân sự, không phải một quyết định chính thức của Hoa Kỳ về việc tổ chức hay không tổ chức tổng tuyển cử.

Thứ hai: Vai trò của quân đội Pháp đối với chính phủ Diệm.

Collins không xem sự hiện diện của quân đội Pháp chỉ là trở ngại đối với chính phủ Diệm.

Trái lại, ông cho rằng quân đội Pháp có thể đã góp phần ngăn chặn những lực lượng có khả năng đánh bại Diệm.

Điều này cho thấy trong nhận định của Collins, quân đội Pháp vừa là lực lượng có thể gây bất mãn chính trị, vừa là một yếu tố quân sự giúp duy trì sự ổn định của chính phủ Sài Gòn.

Kết luận: Tài liệu 180 cho thấy Collins đánh giá việc duy trì quân đội Pháp tại Việt Nam không chỉ từ góc độ quân sự, mà còn xét đến tình hình chính trị, kinh tế và thời hạn tổng tuyển cử tháng 7-1956 theo Genève.